Thứ Bảy, 3 tháng 4, 2021
RT 21387 BAY VÀO HƯ VÔ
Thứ Sáu, 2 tháng 4, 2021
RT 21386 NỤ TẦM XUÂN SỚM
RT 21385 ĐƯỜNG PHAI NẮNG
ĐƯỜNG PHAI NẮNG
Gió đau gót nhỏ lạnh đau mình
Núi biển chưa hoà thuốc trường sinh
Cỏ hoa xin giữ hương hiền dịu
Thơ thẩn gom mây kết thuyền tình
Ấm lạnh bên nhau cũng đủ vui
Bao lần bạo bệnh em khéo nuôi
Tù oan biệt xứ em lặn lội
Cho trái tim vàng trong nắm xôi
Tay yếu chân mềm mắt nghĩa tình
Vượt suối băng rừng núi hãi kinh
Con thơ gởi mẹ đau lòng mẹ
Em đẹp hơn thơ mộng diễm tình
Đất khách tảo tần chưa năm năm
Mua ngôi nhà mới chưa kịp nằm
Bỗng dưng sấm chớp tan tình điệu
Bệnh ngặt giữa đường tuyết lạnh căm
Em hoá mơ hồ anh hoá điên
Ngày đêm cầu nguyện mong phép tiên
Nhưng đường cổ tích không còn dấu
Mình khóc thương mình tủi nợ duyên
Sớm tối bàng hoàng đau thêm đau
Đường sầu buốt giá bóng trăng sao
Em như đóm lửa than gần tắt
Anh cũng tro tàn lạnh trước sau
Cũng may còn có con hiếu ngoan
Được chút ấm êm lúc chiều tàn
Xe lăn ngơ ngác đường phai nắng
Bướm trắng bay theo hoa áo vàng
Âu yếm nhìn nhau lệ bỗng tràn
Mỏi mòn tìm mãi chút bình an
Mà sao trời đất gieo oan trái
Chưa ấm bếp hồng lửa bỏ than
Dở khóc dở cười dở thương đau
Trăng thề rượu tiễn xin kiếp sau
Trôi theo sông suối nghìn năm trước
Tìm bóng thuyền hoa lấp lánh sao
Tay lạnh tìm tay ấm cả chân
Nắng xuôi gió ngược dáng thiên thần
Áo xưa mây cũ hồng như má
Trời đất thơm lành tóc gọi xuân...
RT 21384 ĐƯỜNG VÀO THƠ...LuânTâm
ĐƯỜNG VÀO THƠ...
LuânTâm
Tôi vốn là một kẻ quê mùa, áo nâu chân đất đầu trần, được sinh ra ở một làng
quê bé nhỏ hiền hoà cuả một tỉnh khiêm nhường bên bờ Tiền Giang,“xứ dừa” Bến
Tre
Cha mẹ tôi quanh năm suốt tháng chỉ biết quanh quẩn bên khu vườn, thửa ruộng
“trông trời trông đất trông mây trông mưa trông gió...” Vì thế, tuổi ấu
thơ của tôi đã được che chở, bao bọc, bồng bềnh nhẹ trôi trên những câu hò điệu
hát dân gian ở những buổi cấy gặt, đình đám, hội hè, ở những tiếng ru em thực
êm đềm, vời vợi, buồn buồn xa xôi.
Mẹ tôi dạy con toàn bằng tục ngữ, ca dao! Vừa lọt lòng, hằng ngày Mẹ đã cho tôi
uống mãi dòng suối trong mát tuyệt vời đó cùng với dòng sữa ngọt ngào, thiêng
liêng, hiền dịu nhất của Mẹ. Tôi không còn nhớ rõ từ lúc nào đã thuộc lòng
những câu ca dao thực đơn sơ mộc mạc nhưng cũng thực đẹp như:
- Gió đưa cây cải về trời,
Rau răm ở lại chiụ lời đắng cay
- Chim quyên xuống đất tha môì
Thấy em đau khổ, đứng ngồi không yên
Hay các câu tục ngữ thực thâm thúy:
- Có qua có lại mới toại lòng nhau
- Ăn coi nồi, ngồi coi hướng
- Múa rìu qua mắt thợ
- Ở bầu thì tròn ở ống thì dài
Hoặc các câu hát ru em đầy tình nghĩa nhưng cũng ít nhiều u uẩn
đượm buồn:
- Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Ngóng về quê Mẹ ruột đau chín chiều
- Thiếp thương phận thiếp còn thơ
Lấy chồng xa xứ bơ vơ một mình
- Anh buồn có chốn thở than
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya
Còn Ba tôi thì bắt đầu dạy tôi học vỡ lòng lúc gần tròn 5 tuổi. Khi vừa tập
đọc, tập viết đựơc khá một chút, ngoài quyển “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” rất hay
rất nổi tiếng của cụ Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận,
mỗi trưa, mỗi tối, tôi đều phải đọc cho Ba tôi nghe mấy chuyện đời xưa của
Trương Vĩnh Ký, chuyện Giải Buồn của Huỳnh Tịnh Cuả, vài đoạn thơ Lục Vân Tiên,
truyện cổ tích viết thành thơ lục bát như Con Tấm Con Cám, Thạch Sanh Lý Thông,
Phạm Công Cúc Hoa, Lâm Sanh Xuân Nương, Chàng Nhái Kiểng Tiên..v..v... do nhà Phạm
Văn Tươi xuất bản. Sau đó đến các bộ Truyện Tàu như Tây Du Ký, Phong Thần, Tam
Quốc Chí, Thuyết Đường, Nhạc Phi... Qua các truyện tích trong đó, những lúc
theo Ba dọn vườn, làm ruộng, thả trâu, cộ rơm, tôi còn được Ba giảng dạy thêm
cho nhiều điều hay lẽ phải, luân thường đạo lý thực tiễn ở đời...
Thói quen đọc sách, mê đọc sách đó đeo đẳng tôi suốt đời. Bởi vậy, khi vừa vào
ngưỡng cửa Đaị Học Văn Khoa Sàigòn, ân sư Vương Hồng Sển, đồng bệnh mọt sách,
thuộc nhiều Truyện Tàu, đã dành cho tôi một cảm tình rất đặc biệt đến nỗi nhiều
lần nói công khai: “Nếu mình có con gái thì đã chọn thằng nầy làm rể đông sàng
rồi!” (1)
Tôi không làm sao quên được nếp sống đẹp, những sinh hoạt mộc mạc, lành mạnh,
hiền hòa, những phong cảnh đơn sơ nhưng muôn màu sắc ở thôn quê như bướm vờn cỏ
hoa, ếch nhái hòa nhạc buồn đêm mưa, như :Bình minh nắng ấm chim ca/ trưa hè đưa
võng buồn xa ve sầu/ Chiều tàn thơ thẩn luà trâu/ Cò qua ruộng luá sáo nâu bay
về/Cu kêu, gà gáy mỏi mê/ tắm mưa giỡn bóng trăng quê hữu tình/Mây trôi gió
thoảng ru mình/ Hoàng hôn khói ấm mái tranh mơ màng/Lập lòe đom đóm hiền
ngoan/Soi đường dế nhủi soi hang dế mèn!
Vừa hơn 7 tuổi, tôi đã phải đi học xa nhà xa Cha Mẹ, lang thang hết gác trọ
nấy đến gác trọ khác. Vừa ngơ ngác nhìn ánh đèn điện hắt hiu bé nhỏ cuả tỉnh lỵ
Bến Tre đến “đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu” rồi chợt bàng hoàng lạc lõng với “đèn
Sàigòn ngọn xanh ngọn đỏ"! Cũng trong lúc đó, có một bóng dáng bé bỏng dịu hiền ngây thơ xinh đẹp ở làng kế bên mà lần đầu tiên được gặp gỡ, tôi đã
có linh cảm mơ hồ rằng mình không sao học, vui sống được nếu hình bóng quá yêu
kiều mong manh đó vụt biến mất! Cho dù lúc đó tôi còn quá nhỏ để có thể hiểu
tình cảm đó là gì! Nàng đúng là nàng Tiên dễ thương trong trí tưởng tượng cuả
tôi khi đọc các truỵên cổ tích thần tiên và đã thường ghé thăm tôi trong những
giấc mơ đầu đời thực trong trắng nhưng cũng thực lãng mạn! Từ đó, Nàng đã lớn
dần, tiếp tục học cùng cấp, cùng lớp, cùng trường với tôi từ Tiểu Học đến Đại
Học. Nàng chính là hồn thơ, Nàng Thơ xinh đẹp tuyệt vời, người bạn đời đã hẹn
từ muôn kiếp, người vợ hiền thục đảm đang, thủy chung, gương mẫu, người cháu
ruột (dư!) của Bà Tú Xương còn sót lại mà Trời Phật, Tổ Tiên đã thương dành cho
tôi!
Học Trung Học Công Lập Bến Tre đến hết năm đệ tứ (lớp 9 ngày nay) vừa lên 16
tuổi, tôi phải chuyển qua Trung Học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho học lớp đệ tam (lớp
10 ngày nay). Trong năm nầy tôi may mắn được học Việt văn với thi sĩ Thế Viên,
tác giả Thi Tập “Người Yêu Tôi Khóc". Ngay đầu năm học nhà thơ đã giới
thiệu Thi Tập đầu tay cuả Thầy cho môn sinh. Thi Tập “Người Yêu Tôi Khóc” và
phong cách rất nghệ sĩ của Thầy đã gây cho tôi nhiều thích thú. Tôi cảm thấy
thi nhân và thơ cũng có vẻ sống thực, gần gũi với mình thêm một chút! Bài
“Người Yêu Tôi Khóc", chủ đề của tập thơ, làm tôi rất thán phục! Theo dư
luận một số giáo sư và học sinh lớn thì động cơ chính của bài nầy là một hoa
khôi nữ sinh con nhà giàu, học cùng một cấp (nhưng khác lớp) với Nàng Tiên của
tôi! Tôi còn nhớ được mấy câu:
“Người yêu tôi khóc hôm qua,
Má hồng lệ nhỏ, tay ngà chìm sao
Tóc trôi mây nước thuở nào
Đem bao tâm sự mà trao ân tình
Tôi còn gối mộng thư sinh
Nỗi riêng, riêng nghĩ một mình mà đau...”
(NYTK, Thế Viên)
Trong khi đó, Nàng Thơ học Trường Nữ Trung Học Mỹ Tho (2) đối diện ngay Trường
Nguyễn Đình Chiểu của tôi, chỉ cách lòng đại lộ Hùng Vương mà thôi. Dường như
Trời Phật cũng thương cảm cho mối tình si vô bờ bến của tôi nên đã cho tôi thêm
một cơ hội kỳ thú: Năm đệ nhất, chuẩn bị thi Tú Tài II, chúng tôi đều học cùng
Ban B (Khoa Học Toán), chung môn Toán Hình Học với một giáo sư rất nổi tiếng là
Thầy Trần Văn Ất. Thầy bắt buộc các lớp Đệ Nhất B hai trường trao đổi bài vở
cho nhau để có thêm đuợc nhiều bài tập ôn thi. Tôi như trúng số độc đắc, được
dịp danh chánh ngôn thuận thường xuyên lân la đến thăm Nàng Thơ ở nhà trọ theo
lệnh của vị ân sư quá tốt bụng nầy!
Ngoài công ơn gián tiếp se duyên cho vợ chồng tôi, Thầy Trần Văn Ất còn tác
động mạnh mẽ vào tâm hồn lãng mạn, thêm sức sống cho hồn thơ tôi bằng cách giới
thiệu tác phẩm “Đời Phi Công” của Nguyễn Xuân Vinh (Lúc đó là Tư Lệnh Không
Quân VNCH, người cùng có Bằng Tốt Nghiệp Toán Hình Học Cao Cấp ở Paris như
Thầy, gửi tặng). Đây là những bức thư tình thực đẹp, thực trong sáng, thực lãng
mạn, có lẽ chưa từng có trong Văn Học Sử Việt Nam mà rất nhiều thanh niên thời
đó, các bạn tôi đã dùng gối đầu giường để “ăn cắp, cắt xén” thậm chí “sao y bản
chính” để quyến rủ, dỗ ngọt các người đẹp!
Trong “Thi Nhân Việt Nam”, khi nhận xét về nhà thơ Lan Sơn, Hoài Thanh Hoài
Chân đã buông một câu ngắn ngủi nhưng thật sâu xa đẹp tuyệt vời như thơ: “một
buổi sáng kia, tình yêu đã đến với Lan Sơn và người học trò ấy bỗng thành thi
sĩ” (Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh Hoài Chân, Xuân Thu xb, CA/USA, tr. 83). Câu
nói đó lần đầu tiên tôi được nghe ân sư Nguyễn Khắc Hoạch, Khoa Trưởng Đại Học
Văn Khoa Sàigòn đọc khoảng năm 1962 Nhưng hình như nó đã bất chợt lãng đãng gần
xa đâu đây trong tôi từ rất lâu khi vừa biết mơ mộng thẩn thờ thao thức vì tà
áo trắng học trò quá đơn sơ hiền dịu của Cô Bé Làng Bên, Nàng Thơ bé bỏng của
tôi!
Bởi vậy tôi đã viết:
Hò hẹn hay không vẫn đợi chờ
Yêu em anh bỗng biết làm thơ
Xin thời gian giữ nguyên màu má
Để nghĩ rằng em chẳng hững hờ...
(Tình Tứ, L.Tâm)
Tôi thực không biết làm sao có được đầy đủ lời lẽ hay nhất, đẹp nhất, xứng đáng
nhất tận đáy lòng để cám ơn Nàng! Giữa hai chúng tôi có một “nhịp cầu tri âm”
rất vững chắc, rất đáng tin cậy là Ngô Bá Phước, người bạn thân cùng tuổi tác,
cùng lớp, cùng trường, đồng thời lại là em họ của cả hai chúng tôi (Nàng gọi mẹ
N.B. Phước bằng dì ruột. Tôi gọi ba N.B.Phước bằng chú họ!) Do đó, tôi đã may
mắn có nhiều dịp gặp Nàng ở nhà N.B.Phước, đã từng ở trọ rất gần nhau bên bờ hồ
Bến Tre thơ mộng, từng về quê cùng một chuyến xe, một chuyến đò, từng chào hỏi,
chuyện trò... bâng quơ! Lúc còn ở Trung Học Công Lập Bến Tre, đôi lần N.B.Phước
còn rủ tôi sang lớp “Chị Tư Luân” để mượn tập, mượn sách nữa! Hình bóng quá dịu
hiền đơn sơ trong trắng, đẹp như tiên nửa thực nửa mơ của Nàng, không biết từ
bao giờ, đã nhẹ nhàng đi sâu vào tâm hồn rất mong manh, rất lãng mạn của tôi!
Tôi đã thao thức nhiều đêm, đã có những giấc mơ tuyệt vời như Nguyên Sa nói:
“....Và nghe em ghé vào giấc mộng.... Vành nón nghiêng buồn trong gió đưa...”
(Tương Tư, Nguyên Sa).
Từ đó, tôi bỗng nhiên biết làm thơ... tình học trò! Rất tiếc số thơ nầy đã thất
lạc hết trong khói lửa. Có lần nhân đọc hai câu thơ của Nguyễn Bính:
Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn
Nghĩ đến hoàn cảnh mình, tôi liền bắt chước, nắn nót được hai câu mà chưa bao
giờ dám khoe với Nàng Thơ:
Làng nàng ở cạnh làng tôi
Cách nhau vườn ruộng mưa rơi nắng buồn
Tôi thực vô cùng hạnh phúc được tiếp tục học chung với Nàng tại Đại Học Văn
Khoa Sàigòn với:
Hè sang phượng đỏ sân trường
Thay màu áo mới tơ vương gót hồng
...
Lối vào thư viện thân quen
Dư hương còn đó êm đềm tiếng ai
(Thẩn Thờ, L.Tâm)
Những hình bóng, cảnh vật thơ mộng êm đềm của quê tôi, những câu tục ngữ, ca
dao, câu hò, điệu hát ru em, truyện cổ tích, Truyện Tàu đã nhập vào huyết quản
tôi từ tháng ngày thơ ấu, nay có điều kiện thuận lợi nên đã hòa nhập rất dễ
dàng vào khu vườn thơ văn, kinh sử muôn sắc muôn hương với quý vị Khoa Trưởng
thực tài hoa, thừa tâm huyết như Giáo Sư Nguyễn Khắc Hoạch, Nguyễn Đăng Thục,
quý ân sư nửa cổ nửa kim, nửa thực nửa thơ như Đông Hồ, Nguyễn Văn Trung, Vương
Hồng Sển, Lê Ngọc Trụ, L.M Thanh Lãng, Trần Trọng San, Nguyễn Khắc Kham, Bửu
Cầm, Nghiêm Toản, Nguyễn Đình Hoà, Phạm Thị Tự, Trần Quang Thuận, Trần Anh, Vũ
Quốc Thông ...v.v...
Trong môi trường đó, tình yêu của chúng tôi cũng được lớn nhanh dù vẫn trong
vòng lễ giáo truyền thống của hai gia đình:
(Áo Bay, L.Tâm)
Chúng tôi đã sống trong những tác phẩm văn học nổi tiếng thời cổ điển, tiền
chiến, hiện đại, những chuyện tình lãng mạn, những vần thơ, điệu nhạc trữ tình,
những ray rứt về hoàn cảnh sống khó khăn của gia đình, về tương lai bấp bênh ảm
đạm của bản thân và bè bạn, những đau đớn, dằn vặt kinh hoàng không nguôi của
khói lửa chiến tranh càng lúc càng dữ dội ác liệt tàn phá quê hương hiền hoà,
đốt cháy tan nát quê Mẹ khốn khổ dấu yêu…Không gian an bình nương náu cuối cùng
như thu hẹp quá nhanh chóng sững sờ! Nếu không có Nàng, chắc chắn tôi sẽ không
có gì cả, thậm chí tôi cũng không còn là tôi nữa! Với Văn Khoa Sàigòn, chúng
tôi đã dần đần hiểu rõ thế nào là sự cần thiết trong tình yêu, trong cuộc sống,
đã “Nép vào nhau đỡ tủi thân...". Do đó, chúng tôi càng chăm chỉ học hành
và đọc sách nhiều hơn nữa. Có lẽ Nàng đọc sách để học thi, để rộng tầm tri
thức. Còn tôi thì đọc sách để kể chuyện cho Nàng nghe và cũng vì “thư trung hữu
mỹ nử” (trong sách có người đẹp) như cổ nhân đã dạy!
Chỗ trọ thường xuyên của chúng tôi là Thư Viện Đại Học Văn Khoa Sàigòn, Thư
Viện Quốc Gia, Tổng Thư Viện, các tiệm sách lớn như Khai Trí, Xuân Thu, các lề
đường Lê Lợi, Lê Văn Duyệt, Trần Quý Cáp, các tiệm cho thuê, bán sách cũ... để
tìm mua các sách báo cần thiết mà rẻ tiền! Chúng tôi thường thích đi thơ thẩn
thả hồn vào bóng mát dịu hiền của Vườn Tao Đàn, Vườn Bách Thảo (Sở Thú), những
đoạn đường thơ mộng yên tĩnh Nguyễn Du, Lê Thánh Tôn, Cương Để, Duy Tân, Trần
Quý Cáp, Lê Văn Duyệt... Hình như hầu hết các đề tài chính của những buổi gặp
gỡ, hẹn hò rất dễ thương bé nhỏ đó đều là thơ văn và học hành thi cử mà thôi:
"Cười nói bâng quơ cũng ngọt ngào
Bao lần ngơ ngác tưởng chiêm bao..."
(Một Chút Son Môi, L.Tâm)
Đó chính là niềm hạnh phúc thực đơn sơ nhưng cũng thực lớn lao đầm ấm tuyệt vời
cuả chúng tôi trong thời gian rất dài! Tôi làm sao có thể quên được những phút
giây thần tiên hư ảo cuối tuần được gặp Nàng ở phòng khách nhỏ bé của ngôi nhà
trọ khiêm nhường, được hân hạnh đọc cho Nàng nghe rồi say mê diễn giải bằng tất
cả tâm hồn mình những câu, những bài thơ tình bất hủ cuả Nguyên Sa, Xuân Diệu,
Đinh Hùng? Mái tóc nghiêng nghiêng chấm vai, đôi mắt mở thật to như châm chú,
thán phục, cho tôi biết bao mơ mộng tuyệt vời làm động cơ chính yếu nhất giúp
tôi phấn đấu không mệt mỏi để vượt qua đoạn đường bút nghiên đầy gian khổ,
trong điều kiện một thư sinh quá quê mùa, nghèo nàn, lạc lõng! Hết sức cám ơn
Nguyên Sa đã gián tiếp buộc chặt thêm sợi tơ hồng cho vợ chồng tôi, đã nói hộ
tôi:
"Gặp một bữa anh đã mừng một bữa
Gặp hai hôm thành nhị hỷ của tâm hồn,
…
Em chưa nói đã nghe lừng giai điệu
Em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh
Anh trông lên bằng đôi mắt chung tình
Với tay trắng em vào thơ diễm tuyệt"
(Áo Lụa Hà Đông, Nguyên Sa)
Năm 1967, khi mới vào học Ban Cao Học khóa 3, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, vừa xuống
đến Ba Xuyên (Sóc Trăng) để tập sự, tôi đã vội vàng đánh điện tín về cho Nàng
Thơ vỏn vẹn có ba chữ “Anh Trông Lên” (lấy ý đoạn thơ vừa kể trên). Các bạn nữ
sinh cùng nhà trọ đã tinh nghịch giành lấy bức điện tín, suốt cả giờ vẫn không
tài nào “giải mã” được, cuối cùng đành phải trả lại, xin Nàng Thơ “bật mí”! Nàng đã chìu các bạn sau khi được đền bù thiệt hại
bằng một tiệc chè sâm bổ lượng! Trải qua bao nhiêu binh lửa, tang thương, đến
nay Nàng vẫn còn giữ được nguyên vẹn bức điện tín quý báu đặc biệt để làm bằng
chứng đánh dấu một giai đoạn cực kỳ lãng mạn, đầm ấm, nồng nàn tuyệt vời của
chúng tôi! Chúng tôi chỉ đơn sơ như vậy thôi! Cho nên tôi đã viết:
Anh chẳng biết đàn, chẳng biết ca,
Đọc thơ thiên hạ để làm quà
Cho em những lúc em không giận
Em cũng mừng vui cũng thiết tha!
(Liêu Trai, L.Tâm)
Thời gian nầy, có lẽ hồn thơ trong tôi đã được chấp cánh đến tận chín tầng mây
xanh! Nhưng hầu như tôi không dám làm thơ. Vì mỗi khi cầm bút lên, mới lựa được
một từ, một ý tạm xem là được thì nhận ra đã có người khác viết rồi mà còn hay
hơn mình rất nhiều. Tôi giật mình, tự hổ thẹn, cụt hứng!
Phút giây đó cho tôi vô cùng đồng cảm với Lý Bạch khi Ông đến viếng Hoàng Hạc
Lâu định đề thơ kỷ niệm, chợt trông thấy đã có bài thơ bất hủ của Thôi Hiệu
rồi: Lý thi tiên cũng đành mang bút đi tìm chỗ khác thôi!
Thực ra, thỉnh thoảng khi có nhiều xúc cảm vui buồn nơi gác trọ nửa khuya, tôi
cũng có làm ít bài ghi vào nhật ký riêng mà cho đến khi cưới nhau rồi vẫn còn
chưa dám khoe với Nàng Thơ hiền ngoan của mình! Ngày 6-9-1964, nhân một hiểu
lầm nho nhỏ, tôi đã “lén giận” Nàng, nên có mấy dòng thơ... thất tình:
Nghìn năm đất lạnh ra đi
Con tàu vĩnh biệt không ghi lối về!
Hay là lo sợ, dặn dò, năn nỉ:
Đừng mộng ngoài vòng tình yêu anh
Màu má màu môi nhớ để dành
Đêm đông đừng ngủ quên... cười đẹp
Mà ở trong lòng em vắng anh!
Có bốn câu tôi đã làm vì xúc động thấy Nàng Thơ mang đôi bao tay màu xám của
tôi tặng nhân dịp Nàng mới mua chiếc Vélo Solex. Tôi đã ghi vào trang đầu quyển
Luận Văn Tốt Nghiệp Cao Học Hành Chánh:
Ngày không gặp dài như thân áo mới
Vướng guốc nhung làm tội gót chân hồng
Gants tay xám như muà thu đứng đợi
Những chiều mưa đi học lạnh đau lòng... (3)
Năm 1970, khi thành hôn xong, thỉnh thoảng vợ tôi hay nhắc tôi thử làm thơ,
viết văn nhưng vì sinh kế, phải lo lắng phụ giúp gia đình Cha Mẹ, anh chị em
hai bên mà sinh hoạt đang gặp quá nhiều khó khăn bởi chiến tranh càng lúc càng
ác liệt khắp thôn quê, phải tản cư sống vất vưởng nơi vùng ngoại ô Bến Tre. Tâm
hồn tôi trở nên bất an, mệt mỏi không làm được bài nào xem ra hồn. Sau biến cố
tháng 4, 1975, bị đày đọa khổ sai biệt xứ trong ngục tù bạo quyền, trong điều
kiện vô cùng nghiệt ngã dở sống, dở chết, tôi không thể và cũng không còn đủ
sức để thơ thẩn gì nữa! Tuy vậy, trong những đêm dài “lửa cơ đốt ruột dao hàn
cắt da” (Cung Oán Ngâm Khúc), co rút trong tấm chăn rách nát vừa chiến đấu ác
liệt với lũ rận rệp cũng quá đói rét như mình, vừa tìm mọi cách chống chọi với
luồng gió mùa Đông Bắc lạnh quái ác vô tình, không tài nào chợp mắt được, hình
ảnh vợ yếu con thơ vẫn là những liều thuốc tiên nhiệm mầu nhất để giúp tôi hy
vọng, phấn đấu sống còn! Tôi phải “lặng lẽ, lén lúc, âm thầm” ghi lại chút xúc
cảm thực đau xót:
...
Vẫn thiếu anh mà vẫn có anh
Áo nào con đắp suốt năm canh
Trong từng giây phút, từng câu nói
Em dạy cho con sống thơm lành!
Con nói ngây thơ em cũng vui
Mà lòng thương nhớ anh không nguôi
Trong con cũng có anh âu yếm
Em vẫn thương yêu nhứt tiếng cười
(Nguồn Sống, 04-05-78 L.Tâm)
Đó cũng chỉ là một cơn mơ bé nhỏ mong manh nổi trôi trong một góc trời cổ tích
thanh bình của kiếp nào xa xôi mơ hồ mà thôi! Trong khi thực tế, vợ con tôi
đang dần dần chết khô chết héo nơi điạ ngục trần gian:
Vợ con còn chút da bọc xương
Bữa cháo, bữa rau, muối pha tương
Còng lưng cày cuốc trồng khoai sắn
Tóc cháy da sần áo gió sương!
(Tủi Thân, L.Tâm)
Đến khi được ra khỏi nhà tù nhỏ thì lại bị rơi vào cái nhà tù khổng lồ khác với
đủ loại rình rập, khủng bố, đe dọa, kỳ thị, cô lập tinh vi, tàn bạo nhất. Cũng
như đa số bạn bè, các đồng bào sa cơ thất thế, tôi chỉ còn như một hồn ma bóng
quế dật dờ:
Ta như ma đói như lục bình
Trôi nổi dật dờ chết lặng thinh
Con ong, con kiến còn lên mặt
Giả điếc, giả câm dấu bất bình!
(Tủi Thân, L.Tâm)
Do đó, chỉ còn biết:
Van nợ lắm khi trào nước mắt
Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi"
(Tú Xương)
Trong hoàn cảnh đó, hồn người cũng không còn nói chi hồn thơ! Đến cuối năm
1994, lúc mới sang định cư tại Hoa Kỳ, giống như con cá đang sống ở sông hồ
nước ngọt bị quăng vào biển nước mặn, tôi thực bàng hoàng lo sợ cho tương lai
của vợ con mình hơn là vui mừng vì được tự do:
Xứ người lạ cỏ lạ cây
Lạ ăn lạ uống, đêm ngày trở trăn
Ta như hạt cát sông Hằng
Mênh mông trong đục cũng bằng sắc không
Trong vòng trời đất mênh mông
Đất lành chim đậu mà lòng chưa yên
Cũng may còn có vợ hiền
Ba con hiếu thảo, tạm quên lưu đày
(Đường Trần, L.Tâm)
Với thời gian, những xúc cảm, chơi vơi hụt hẫng đau xót cho thân phận bọt bèo,
nỗi nhớ thương quê hương làng xóm, mồ mả Cha Mẹ, Tổ Tiên cũng trở lại vị trí
cân bằng, bão hòa. Rồi niềm hy vọng cho tương lai các con, chút không khí an
bình tự do, chút tình người ấm áp của mảnh đất lành nầy... dần dần làm tôi cảm
thấy được phần nào yên ổn trong tâm hồn vốn “rất thảo mộc", rất yếu đuối,
quê mùa cuả mình! Từ đó, thi hứng lại len lén thức dậy nhẹ nhàng, êm ái trong
tôi! Những ngày sáng chiều lang thang đón đợi xe bus đi, về, làm một công việc
tuy tầm thường nhưng tương đối nhàn hạ vừa với tuổi già sức yếu, tôi lại bắt
đầu gắn bó với thơ và cũng không khỏi ngậm ngùi cho thân phận nổi trôi của
mình:
Lỡ quan lỡ thợ lỡ thầy
Mưa hay lệ tiếc hình hài sắc không...
(Lẻ Loi, L.Tâm)
Những bài thơ đầu tiên trong kiếp tha hương, tôi chỉ dám khoe với Nàng Tiên (mắc
đọa), các con hiếu ngoan của mỉnh và người bạn hiền tri kỷ tri âm Nguyễn Điền
Thạnh đang nghìn trùng xa cách ở Việt Nam mà thôi! Đầu xuân 1999, vừa dọn
vào ngôi nhà mới có sân cỏ non phía trước, phiá sau, hoa anh đào nở rộ khoe
duyên thực đẹp, thực mong manh, hiền dịu, đầm ấm, thanh cao dễ thương vô cùng,
theo yêu cầu của con gái út Minh Thư, tôi đã “khai bút” bài “Vẫn là Thơ":
Mua nhà nào dám đòi hoa
Trời thương đào mọc trước nhà sau sân
Ngày vui hoa nở mừng xuân
Nhớ chàng Từ Thức hai lần tìm tiên
Biết đâu nợ biết đâu duyên
Mình nay lạc lối đào nguyên ai ngờ
Tha hương đời vẫn là thơ
Đất lành chim đậu, hoa chờ đợi ta...
Nàng Thơ và ba con đều thích thú, khen lấy, khen để ! Thực đúng là “chồng hát vợ
vỗ tay, cha hát con khen hay!"
Được trớn, lúc rảnh rang, tôi thường nắn nót thêm một số bài nữa. Mỗi ngày đi
làm về, trong bữa cơm tối, có bài nào, câu nào mới, tôi đều đọc cho vợ con nghe
để xin phê bình, góp ý. Vợ tôi vui lắm, thường chọn cho tôi nhiều chữ rất hay,
đẹp, có khi còn cho bài thơ một cái tựa rất thích hợp, rất lãng mạn nữa! Những
lúc đó lòng tôi vô cùng xúc động hạnh phúc, ấm áp tuyệt vời! Khi tôi đọc bài
“Phong Trần” đến đoạn:
"...Thì thôi ! Hết mộng hết mơ
Hết cơm hết gạo dật dờ nổi trôi
Tiếng cu vẫn gáy bồi hồi
Khu rừng Long Khánh một thời gác cu
Thương con chim nhỏ hiền từ
Tiếng kêu tiếng gáy ngỡ như thanh bình
Nước trong mây trắng trời xanh
Cũng không ngăn được chiến tranh, hận thù
Xuân nào trời đất âm u
Núi xương sông máu tội tù khổ dân ..."
thì Nàng Thơ vội ngắt ngang bằng một tràng pháo tay giòn giã Rồi thỏ thẻ rót
vào tai tôi: “Trời ơi! Anh làm thơ ngày càng hay quá, em thích quá !Anh cố
gắng nữa đi để dành lại chút quà kỷ niệm cho con cháu, người thân, bạn bè...”
Tôi phồng cả mũi tưởng có thể bị vỡ tung ra được! Làm sao tôi có thể dám trái
cái “lệnh” quá êm ái, quá tình tứ dễ thương đó? Nhưng thời gian nầy, tôi cũng
chưa có được bao nhiêu bài đáng nhớ!
Cuộc sống đang êm đềm thơ mộng, bỗng một tai họa thực khủng khiếp xảy ra cho
gia đình tôi đúng ngày 11-09-1999, một năm trước vụ khủng bố New York và Ngũ
Giác Đài Mỹ. Vợ tôi bị tai biến mạch máu não rất nặng tưởng không thể nào qua
khỏi được! Tôi như chết chửa chôn. Các con tôi như ma đói, như lục bình thực sự
rồi!
Ngày xưa, Ông Hàn Dũ, một nhà phê bình rất nổi tiếng đời nhà Đường bên Trung
Hoa, có nói: “Vật bất đắc kỳ bình tắc minh” ! Cũng vì thế, trong lời tựa nguyên
bản chữ Hán truyện ngắn Kim Vân Kiều, tác giả Từ Văn Trường (4) đã viết một câu
bất hủ nói lên nỗi bi phẩn tột cùng của mình để giải thích lý do khiến ông phải
ghi chép lại câu chuyện thực quá đau đớn thương tâm nầy:
"Thúy Kiều dĩ tử, Thanh Đằng lão
Hận hải mang mang, hựu nhất thanh!"
(Thúy Kiều đã chết rồi, Thanh Đằng quá già yếu,
Bể hận quá mênh mông nên phải kêu to lên một tiếng!)
Phải chăng cả hai câu trên đều nói lên, phản ảnh được cái tâm trạng tôi, cái
hồn thơ quá bi thảm của tôi thời gian từ khi vợ tôi, gia đình tôi bị lâm vào
hoàn cảnh hết sức khốn đốn, dở sống dở chết nơi xứ lạ quê người tứ cố vô thân?
Cho đến nay dù được chạy chữa tận tình, chồng con hết lòng hết sức chăm sóc
bằng sự hiếu thảo, tình nghĩa mà nhiều người quen biết còn tưởng là chỉ có
trong các truyện cổ tích đời xưa thôi, vợ tôi vẫn phải ngồi xe lăn, nói năng
rất ít, rất khó, trí nhớ bị mất rất nhiều, không thể tự chủ sinh hoạt tối thiểu
được. Khi ở bệnh viện, nursing home về, vợ tôi vẫn còn mang hai ống nhựa ở cổ
và bụng! Hơn năm sau vẫn còn lửng đửng, lờ đờ, nửa tỉnh nửa mê! Tôi còn tệ hơn
gà trống nuôi con! Cha con tôi đã tìm đủ mọi cách đánh thức cái trí óc thực
thông minh, sáng suốt, cái giọng nói thực ngọt ngào, dịu dàng như chim hót đó,
cái nụ cười thực ngây thơ duyên dáng, thực tình tứ, thực như tiên đó... Nhưng
tất cả hầu như đều hoài công, tuyệt vọng!
Cho đến một hôm, tình cờ tôi đọc cho
Nàng nghe mấy câu trong bài “Tương Tư” của Nguyên Sa:
"Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay..."
Bỗng nhiên, như một phép lạ, Nàng Thơ quá mong manh khô héo, xác xơ cuả tôi đã
bật cười thành tiếng thực vui, thực tuyệt vời như những ngày xưa lúc “Dù thương
hôn tóc, khăn lau má... Ấm cả bàn chân, ấm cả tay...” (Làm Tiên, L.Tâm). Cha
con tôi vội ôm chầm lấy Nàng mà khóc nức nở vì niềm vui quá lớn đến bất ngờ!
Con gái út Minh Thư liền nói “Ngày xưa Ba Mẹ đã học chung Văn Khoa, câu chuyện
giữa hai người đều toàn văn thơ, nhứt là thơ Nguyên Sa, làm sao Mẹ có thể quên
hết được. Vậy, từ nay, Ba nên ráng đọc những bài thơ mà Ba đã từng đọc cho Mẹ
nghe và Mẹ thích nhất, chắc chắn Mẹ sẽ vui hồi phục được!”. Tôi rất đồng ý với
đứa con cưng hiếu thảo, rất mực thông minh nầy. Do đó, khi được ru trong những
bài thơ tình đầy kỷ niệm ngọt ngào cuả hai đứa thời cùng trường, cùng lớp, cùng
sách, vợ tôi dần dần được thuyên giảm một phần, trí óc có khá hơn đôi chút. Một
hôm Minh Thư lại thỏ thẻ “ Ba đọc thơ Nguyên Sa, Xuân Diệu, Đinh Hùng cho Mẹ
nghe đã có hiệu quả tốt rồi. Nhưng con nghĩ nếu chính Ba làm thơ nhắc lại những
kỷ niệm hoa mộng êm đẹp của Ba Mẹ, an ủi Mẹ, thế nào Mẹ cũng thích và vui nhiều
hơn nữa."
Tôi rất cảm động khen ngợi suy nghĩ hợp lý, chu đáo của con nhưng rồi lại hẹn
lần hẹn hồi mãi vì quá bận rộn Vừa lo chăm sóc vợ bệnh vừa phải lo quán xuyến
nhà cửa cơm nước cho các con nhỏ suốt ngày đi học, đi làm rất vất vả.
Một chiều cuối tuần, trong lúc Minh Thư cho Mẹ ăn cơm, tôi đọc 4 câu thơ:
"Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
Đợi gió xuân về để lả lơi
Hoa lá ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi!”
(Hàn Mặc Tử)
Minh Thư rất ngạc nhiên vì cháu chưa hề nghe qua. Tôi phải giải thích, kể sơ
tiểu sử Hàn Mặc Tử cho con biết. Minh Thư lại khuyến khích tôi làm thơ: “So với
Hàn Mặc Tử, Ba còn đỡ khổ hơn nhiều. Ba nên cố làm thơ cho Mẹ vui, để dạy con
học tiếng Việt, để Ba có chỗ giải trí... Con thường nghe người ta nói rằng khi
một người không còn hy vọng gì, thú vui gì cả thì không thể sống được! Nay Ba
đã bỏ hết rượu, thuốc lá, bia, cà phê, trà, bỏ cả tiếng cười rất giòn, rất hào
sãng cuả Ba rồi... Ba phải làm thơ để bù vào chỗ trống đó, nếu không, con sợ
lắm! “ Nghe những lời con trẻ rót vào lòng, tôi không cầm được nước mắt! Vợ tôi
khóc theo! Từ đó, mỗi cuối tuần, ngày lễ, Minh Thư đều quanh quẩn ở nhà, dành
hết mọi việc chăm sóc Mẹ, nấu nướng để Ba rảnh rang làm thơ! Cháu còn lo đánh
máy sạch bản thảo, email gửi bài liên lạc với các bạn thơ của tôi nữa. Anh Chị
cháu cũng tích cực phụ lo hết mọi việc trong ngoài. Tôi rất vui, rất yên tâm.
Do vậy mới có được một số thơ Luân Tâm!
Thế nhưng Luân Tâm là gì? Xin thưa: Luân là tên của vợ tôi (Bùi Thị Luân). Tâm
là lòng. Cả hai chúng tôi có chung một tâm hồn, một tấm lòng. Do đó thơ tôi
cũng chính là tâm hồn của Nàng dành cho tôi và các con, là tình yêu thương vô
bờ bến của tôi dành cho Nàng, Nàng Tiên mãi mãi đẹp tuyệt vời, người vợ hiền “vượng phu ích tử” mà nhiều lần tôi đã phải ngạc nghiên tự hỏi:
Tu bao nhiêu kiếp anh mới được
Thơ thẩn cùng em kể chuyện lòng
(Một Chút Son Môi, L.Tâm)
Tôi đã nghẹn ngào, âu yếm van xin:
Em ơi! Em vẫn là tiên nữ
Đừng bỏ anh đi lạnh một mình!
(Tình Tứ, L.Tâm)
Chữ Tâm cũng là tên mà ân sư Thi Sĩ Đông Hồ đã đặt cho tôi khi mới vào Đại Học
Văn Khoa Sàigòn. Thấy tôi quê mùa, hiền lành nhưng rất chăm học, Thầy rất
thương quý, nói rằng tên Tám có vẻ không được thanh nhã! Thầy chỉ thêm cho một
nét dấu nhỏ thành ra chữ Tâm. Văn Tâm là tấm lòng trong sáng “rất thích hợp với
nhân cách của con mà cũng đẹp lắm!”... Thực ngậm ngùi... “Đời người như kiếp
phù du / Sớm còn tối mất, công phu lỡ làng!” (Ca Dao). Mới ngày nào ! Có
những buổi chiều nhạt nắng, Thầy Đông Hồ ân cần tiếp tôi tại ngôi biệt thự yên
tĩnh ở ngoại ô Gia Định, nơi chiếc ghế trường kỷ cổ kính, bên cạnh búp trầm
hương hình trái núi khói tỏa nhè nhẹ thơm ngát mơ màng, nửa thực nửa tiên!
Giọng nói của Thầy như thơ, nét chữ rồng bay phượng múa trôi nhẹ bồng bềnh trên
tờ giấy đỏ để phút chốc đã thành đôi câu đối thực trang nhã, thâm thúy, hoặc
trên các tờ giấy trắng muốt để hóa ra các bức “thư họa” độc đáo tuyệt vời, có
điểm thêm ít cành mai, cành đào hay phong lan mềm mại, cao sang, thoát tục!
Xin phép được nói thêm: trong hoàn cảnh bi đát quá ngặt nghèo của riêng mình,
từ khi vợ tôi lâm bạo bệnh, tôi đã cắt đứt hết mọi liên lạc với thế giới bên
ngoài, cố dành chút hơi tàn sức kiệt để có thể toàn tâm toàn ý lo chăm sóc Nàng
và thay Nàng nuôi dạy ba con thơ. Nhiều khi có chuyện buồn khổ xảy ra cho gia đình, các người thân yêu
ruột thịt, bạn thiết xa gần, tôi đều phải đành giấu kín riêng trong lòng, sợ vợ
tôi hay biết có hại cho bệnh tình “Điệu buồn anh giữa riêng anh /Điệu vui anh
vẫn để dành cho em!” (L.Tâm). Nhìn trước, nhìn sau, không ai có thể chia xẻ,
tâm sự những xót đau, bi phẩn vô bờ bến ! Do đó, tôi càng có nhu cầu bức thiết
đến với Thơ như một cách thế, một nơi chốn để giải tỏa bớt những suy tư, tình
cảm đang oằn oại không lối thoát, một cách tự an ủi, tự kể lể hàn huyên với đôi
chút ước mơ thực bé nhỏ mong manh...
Mỗi khi làm thơ, đọc lại thơ mình, tôi luôn luôn tự thấy hổ thẹn vì còn quá non
kém, không bao giờ dám tự hài lòng! Tôi vẫn tự biết mình đã quá quê mùa, hủ
lậu, “ếch ngồi đáy giếng” nên lại càng thêm phân vân, e ngại! Tôi thường hay
giật mình lo sợ nhớ lời dạy của cụ Tú Xương: “Văn chương nào phải là đơn
thuốc(?)... Chớ có khuyên xằng: chết bỏ bu!".
Chính vì thế, các bài thơ vì thương vợ, thương con, thương Cha Mẹ, bè bạn, làng
quê, kỷ niệm vui buồn, thương thân tủi phận mình mà hình thành được, tôi chỉ
dám đọc cho vợ con nghe mà thôi! Mãi cho đến năm 2005, bệnh tình của vợ tôi có
vẻ đỡ hơn được đôi chút, các con tương đối trưởng thành hơn phần nào, tôi đã
gửi ít bài cho anh Lê Văn Bỉnh đăng vào Tạp Chí Hành Chánh Miền Đông của Hội
Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh Miền Đông Hoa Kỳ. Kế đó, quý anh Lê Văn Bỉnh,
Dương Quân, Nguyễn Ngọc Liên đã rủ tôi tham gia vào “Tuyển Tập Thơ Quốc Gia
Hành Chánh “ (5) . Cũng trong thời gian nầy, anh Dương Quân, vì mối đồng cảm
sâu xa, tình đồng môn tốt đẹp đã giới thiệu thơ tôi lên website Diễn Đàn Cựu
Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh ĐS14. Từ đó, tôi được quen thêm một số đồng môn
bạn văn thơ rất quý đã tích cực an ủi, nâng đỡ, khuyến khích tôi như quý anh Vũ
Công Hùng (Mao Tôn Hùng Vũ, Webmaster website ĐS14) Lan Đàm, Trần Kiêu Bạc,
Nguyễn Đình Đức, Nguyễn Bửu Thoại & Ngọc Sương, Phạm Thành Châu, Trương
Thúy Hậu, Nguyễn Thế Vĩnh, Nguyễn Trọng Đạt, Nguyễn Phụng, Lâm Thanh (Lâm Thành
Hổ), Nguyên Trần (Nguyễn Tấn Phát), Trần Bạch Thu, Hoàng Hoa, Lãm Thuý, Như
Thương...v.v... Những ân tình đó tôi không bao giờ dám lãng quên.
Đặc biệt, tôi còn may mắn được quen thân một bạn láng giềng rất tốt bụng, hiền
hoà, nho nhã, một bực thầy là thi họa sĩ Vũ Hối. Anh đã tốn nhiều công sức, thì
giờ quý báu để hướng dẫn, vẽ tranh bìa, thư họa phụ bản, cảm đề thơ & thư
họa tặng cho Thi Tập. Nếu không có sự giúp đỡ vô cùng quý báu đó, chắc chắn tôi
không thể nào khai sanh được đứa con tinh thần đầu lòng của mình!
Rốt cuộc tôi cũng đã vượt qua được rất nhiều khó khăn khách quan và chủ quan . Sau thời gian ngại ngùng, đắn đo, ray rứt, nhìn bóng chiều tàn mùa đông đất
khách quê người, không khỏi xót xa ngậm ngùi ! Vì tấm lòng ưu ái của vợ con,
thân hữu xa gần, tôi đành thử liều “ăn gan hùm, uống mật gấu” gom góp, chọn lọc
một số thơ có vẻ ít thô thiển nông cạn nhất, sửa chữa, sắp xếp tạm thành “Hương
Áo” như chút kỷ niệm, chút quà mọn cho người thân và bạn thiết !Thế thôi! Nếu
may mắn có thêm được độc giả nào, vì yêu tiếng mẹ đẻ, không nỡ chê bai, thương
để mắt xanh đến, thì thực là “tam sinh hữu hạnh” cho tôi vậy!
Cuối cùng, xin cho phép tôi được gởi lời cám ơn chân thành nhất, trân trọng
nhất đến tất cả quý độc giả đã chịu khó dành chút thì giờ quí báu để thăm viếng
khu vườn thơ mong manh, nghèo nàn, bé nhỏ, quê mùa và rộng lượng có chút đồng cảm
với những mảnh hồn tuy vụn vặt, non nớt nhưng rất chân thành của tôi
Ghi Chú:
(1) Câu nầy có ghi trong bài tựa quyền “Hồi Ký Năm Mươi Năm Mê Hát” của Thầy
Vương Hồng Sển
(2) Sau đổi tên là Trường Lê Ngọc Hân, Mỹ Tho
(3) Phan Văn Tám, “Thẩm Quyên Tổng Thống Đệ Nhị Cộng Hoà Việt Nam", Luận Văn Tốt Nghiệp Ban
Cao Học Khóa 3 Học Viện Quốc Gia Hành Chánh Sàigòn, 1969
(4) Từ Văn Trường còn có bút hiệu khác là Thanh Tâm Tài Nhân, Thanh Đằng. Ông là
người tình cũ ở ngoài đời thật của Thúy Kiều. Ông vô tình (không rõ gian kế)
giúp Tổng Đốc Hồ Tôn Hiến, xúi giục Thuý Kiều thuyết phục Từ Hải chịu qui hàng,
bị chết thảm thương! Ông thực sự muốn giúp Thúy Kiều có được cuộc sống yên ổn
lâu dài mà hóa ra haị nàng! Về sau Ông quá phẩn uất, quá đau khổ phát cuồng, tự
chọc thủng tai, làm mù mắt mình! (Theo Giảng Văn “Nguồn Gốc Truyện Kiều” của
Giáo Sư Bửu Cầm, Đại Học Văn Khoa Sàigòn 1962).
(5) Tuyển Tập Thơ Quốc Gia Hành Chánh, Hoài Bảo Quê Hương xb, California, USA 2005.
(Tr ích trong TT ”HƯƠNG ÁO”,MinhThư xb, MD/USA.2007,tr.17-35)
RT 21383 MẸ LẦM THAN THƯƠNG
MẸ LẦM THAN THƯƠNG
Ngày nào nó trốn dưới hầm
Như con chuột ghẻ mẹ lầm than thương
Xẻ cơm nhường áo quê hương
Thuốc thang bồi dưỡng sữa đường mật cam
Tháng tư đen nó lên quan
Vênh râu phình bụng làm tàng đảng viên
Ăn trên ngồi trước cướp tiền
Cướp nhà cướp đất giết hiền đốt kinh
Hãi hùng mẹ khóc van xin
Nó vu cáo mẹ che mình ngụy quân
Tuyên truyền phản động lòng dân
Đem ra đấu tố vong ân cộng thù
Máu mẹ hận hải thiên thu
Cháu con vượt bể khổ nhừ thiện tâm
Ngày nào nó trốn dưới hầm
Như con chuột ghẻ mẹ lầm than thương...
MD.04/25/13
LuânTâm

RT 21382 MẮC BẪY SỤP HẦM
MẮC BẪY SỤP HẦM
"Tháng tư đi tậu trâu bò
Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm "(1)
Người mắc bẫy trâu sụp hầm
Đồng hoang cỏ cháy kiến ong trở cờ
Núi xương sông máu vỡ bờ
Trại tù nở rộ trẻ thơ ăn bèo
Chó tuyệt giống chuột ăn mèo
Ròng ròng mất nước cá kèo lột da
Xác con vịt hồn mẹ gà
Đạn cười bom khóc khổ qua bị đòn
Thân tàn vượt thác trèo non
Băng rừng đói rách thăm con nuôi chồng
Tép riu nhái bén mất rong
Cùng đường tuyệt giống lấp sông kinh hoàng
Chim trời cá nước đầu hàng
Bóng chim tăm cá điêu tàn bóng đen
Miệng hùm lưỡi rắn tự khen
Độc trùng độc vật trống kèn dã nhân
Ông lò ông táo thiêu thân
Khát khao vượt biển không chân kiện trời
Vu oan hại chủ đổi đời
Ăn lông ở lỗ kiếm lời khoẻ re
Sâu đen bọ đỏ lên xe
Cò con cu đất luỹ tre chìm tàu
Không nghìn trước không nghìn sau
Đòn thù tuyệt đỉnh cỏ rau hết hồn
Sử kinh bóp méo vo tròn
Tráo bùa đổi phép dạy con rượu chè
Ngày đất khóc đêm trời đè
Lưà thầy phản bạn kết bè yêu tinh
Con thơ khát sữa cầu kinh
Tội đeo kính trắng nhục hình tha ma
Trần gian điạ ngục thương ca
Bừng con mắt dậy cướp nhà tay không...(2)
MD.04/09/08
LuânTâm
(1) Ca Dao
(2) Mượn ý câu thơ :"Bừng con mắt dậy thấy mình tay không " của Ôn
Như
Hầu Nguyễn Gia Thiều trong tác phẩm "Cung Oán Ngâm Khúc"
Thứ Năm, 1 tháng 4, 2021
RT 21381 TRẢ ÁO XANH
TRẢ ÁO XANH
Sững sờ cây trả áo xanh
Trời thương biển nhớ cũng đành bú tay
Tình câm còn bóng hôn gầy
Em hoa chùm gửi ta dây bìm bìm
Áo quan nào cũng được khiêng
Bàng hoàng nắng rụng chó điên cản đàng
Gió tiễn biệt mưa để tang
Dấu chân chim cũng rừng tham núi thiền
Nợ trần gót bụi đau tiên
Mặt khô tóc cháy ngửa nghiêng cánh cò
Bếp không củi bổi tìm tro
Em ăn nhang khói hẹn hò làm thơ
Nhà cũng khói sương cũng mồ
Đông tàn xuân vẫn giả vờ ngủ quên
Em không tuổi ta không tên
Xác không hồn trống cũng lên bàn thờ
Cùng nhau nhắc chuyện tóc tơ
Cháu xa con vắng còn ngờ kẹt xe
Nửa tay gãy cõng chân què
Bạc tình đất khách thương quê chìm đò...
MD 05/30/06
LuânTâm
(Trích trong TT HƯƠNG ÁO,Minh Thư
xb,MD/USA.2007,tr.121)