XIN CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VIẾNG TRANG HƯƠNG ÁO
Hiển thị các bài đăng có nhãn GiớiThiệuPhêBình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn GiớiThiệuPhêBình. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 24 tháng 3, 2025

PHỐ NÚI MỘNG MƠ

Tour PLEIKU Thành Phố ĐẠI NGÀN


PHỐ NÚI MỘNG MƠ 

Phố núi đồi hoa tím than
Hồn thơ hứng mộng chứa chan ân tình
Đường thương ngõ nhớ chuyện mình
Sân trường lớp học cùng nhìn mây bay...

MD.03/24/25
LuânTâm
Thân cảm tặng cảm ơn "MỘNG PLEIKU"
của TVS KIM OANH
 
Những bức ảnh xưa cũ về thành phố Pleiku

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2024

RT 2224987 VÔ CÙNG CHIÊM BAO

 


(Trình bày: A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh , Web Tiếng Thông Reo)

Chủ Nhật, 16 tháng 6, 2024

HOA TIÊN THƠ MỘNG HỒN QUÊ

Chụp ảnh sen trắng Tam Hưng


HOA TIÊN THƠ MỘNG HỒN QUÊ

Phù sa chín nhánh một lòng mơ
Trắng da dài tóc hoa tiên thơ
Hai tà lục bát ca dao mới
Gót sen sóng mắt chiêm bao giờ...

MD.06/16/24
LuânTâm
Thân cảm tặng cảm ơn TVS KIM OANH

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2009

LT019- Triết Trong Hương Áo

Thư hỏi cuả đồng môn Nguyễn Công Lượng

Trong tập thơ Hương Áo của thi sĩ Luân Tâm có câu:

“Trôi ta đen đỏ bạn thù lưỡng nan”

hay là :

“Ta trôi đen đỏ bạn thù lưỡng nan”

Như vậy có phải xem Bạn và Thù ngang nhau không? Mà xem ngang nhau thì tất mình phải đứng “Trung Lập”? Mà đứng “Trung lập” thì e đối với một người Tị Nạn Chính Trị phải được xem là “Chệch hướng hay Trở cờ” chăng?

Nguyễn Công Lượng
(Cựu Sinh Viên HVQGHC, khoá Đốc Sự 16)


*****************

Thư trả lời đồng môn Nguyễn Công Lượng


Nguyễn hiền đệ thân quý:


Để vắn tắt trả lời câu hỏi của hiền đệ liên quan đến câu thơ: "Trôi ta đen đỏ bạn thù lưỡng nan" trong bài thơ siêu thực Gió Cát Sương Mù mà tôi đã đề tặng hiền sư đệ Họa Sĩ đa tài hoa A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh trong Thi Tập Hương Áo, trang số 275, xin có đôi dòng như sau:

Muốn hiểu một bài thơ, xin làm ơn làm phước chiụ khó đọc hết toàn bộ, hay ít ra cũng một đoạn dài chứ không nên cắt xén vụn vặt! Trong bài thơ và câu thơ nầy, tôi đã lạm bàn buâng quơ "quê mùa" về Thuyết Nhị Nguyên, Lưỡng Cực trong Siêu Hình Học Triết Học Đông Phương bằng kiểu ngôn ngữ thơ rất nhà quê của tôi... chơi chơi vậy thôi!

Nguyên tắc Nhị Nguyên, Lưỡng Thể, Lưỡng Cực: nói làm sao cho dễ hiểu, cho tận ý đây nè Trời! Đó là khái niệm giữa Thiện và Ác, Ngày và Đêm, Đen và Trắng, Đạo Đức và Tội Lỗi, Ta và Tha Nhân, Yêu và Ghét, Bạn và Thù , Hạnh Phúc và Đau Khổ, Được và Mất, Sinh và Diệt, Tụ và Tán, Nóng và Lạnh, Âm và Dương, v.v...Như vậy thì ngay trong chính bản thân mỗi con người cũng đều luôn có Bạn và Thù …nữa là … Ôi! biết nói đến bao giờ cho được đầy đủ đây... Phạm Trù Triết Học thì làm sao mà "giải nghĩa đùi" cho được?

Đây là Một Bài Thơ, Một Áng Văn Chương Siêu Thực Vời Vợi (cố ý thoát tục chứ không phải cố bám trần tục đâu!) Cho nên rất ước mong người đọc làm ơn nhìn nó bằng một con tim Trong Sáng An Bình Cao Xa, chứ không nên quanh quẩn trong cái Mê Lộ Chính Trị Chính Em bằng những hận thù hằn học thường trực, quá khích, đơn giản như hai phạm trù để tuyên truyền: "Quốc Gia và Cộng Sản" ...

Hy vọng hiền đệ thông cảm cho, tôi đang bị cảm cúm, nhưng vì lòng quý trọng hiền đệ nên vội vã có mấy lời hồi âm thô thiển nầy! Cũng xin tin hiền đệ rõ: do sự giới thiệu rất nhiệt tình của Hai Quẹo, tôi đã gửi tặng sớm Thi Tập Hương Áo cho hiền đệ và đệ phụ thi sĩ Nguyễn Thị Dung rồi, có lẽ cũng sắp đến nơi!

Xin thân chúc hiền đệ cùng quý quyến được nhiều sức khỏe và thân tâm an lạc!

Thư bất tận ngôn.Rất thân mến.

Luân Tâm.

Thứ Hai, 23 tháng 2, 2009

LT018- Từ Gs. NGUYỄN PHỤNG

Đọc Tập Thơ HƯƠNG ÁO của Luân Tâm

Nguyễn Phụng
Cựu Sinh Viên QGHC, Khoá Đốc Sự 11 &
Cao Học 3, Ph.D, Giáo Sư Đại Học
North Carolina, USA.

Hương Áo* là một tập thơ đặc biệt. Đặc biệt vì đó là một tập thơ dày cộm và mỗi bài thơ mang một số thứ tự để người đọc dễ tìm hay dễ nhớ. Điều hiển nhiên là giá trị thi ca của tập thơ không tùy thuộc vào số lượng bài thơ; đó là trường hợp của T.T. Kh. hay Trần Bích Tiên, tác giả này chỉ đến với người đọc qua một bài thơ độc nhất, "Nói Với Em Lớp Sáu" nhưng vẫn được nhiều người đọc miền Nam nhớ tên. Tuy vậy, với 360 trang chữ nhỏ chi chít và 151 bài thơ dài dằng dặc, Hương Áo thật là đặc biệt. Đặc biệt hơn nữa là Hương Áo không phải chỉ là một tuyển tập những bài thơ tình -- hầu hết mọi thi phẩm dù trơ trọi đến mấy cũng chỉ là một tuyển tập thơ tình -- mà còn là một chuyện tình, một chuyện tình đẹp và buồn, bắt đầu từ quê hương miền Nam, Sài Gòn, Bến Tre, Long An và trôi giạt đến xứ Cờ Hoa này. Chuyện tình đó được lược lại trong mấy trang dưới đây với vài ghi nhận về hương vị thi ca gói ghém trong câu chuyện.
Ngày xưa, khi yêu nàng, tác giả Hương Áo, Luân Tâm, đến với nàng bằng thơ, nhưng anh không biết làm thơ nên chỉ đọc thơ của thiên hạ để làm quà cho nàng khi nàng không giận hờn:

Anh chẳng biết đàn, chẳng biết ca
Đọc thơ thiên hạ để làm quà
Cho em những lúc em không giận
Em cũng mừng vui, cũng thiết tha.
(Liêu Trai)

Anh đọc nhiều thơ lắm -- thơ Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nhất Tuấn, Nguyên Sa… -- và đọc với giọng trìu mến, thiết tha. Ý thơ và giọng đọc của anh làm thành nhịp cầu thương yêu bắc qua giòng sông ngăn cách ban đầu và đưa đến tình yêu thơ mộng của nàng. Tình thương yêu của nàng nở hoa kết nụ thắm tươi; anh cảm ơn nàng và cảm ơn đời. Và từ đó họ thành đôi uyên ương, xây dựng một gia đình "như cổ tích như thần tiên" với người vợ hiền "như hoa đồng nội" trang điểm cho cuộc đời và "như nắng ấm đầu xuân" đem sự đầm ấm cho mai sau.

Biến cố đau thương tháng 4 năm 1975 phủ xuống miền Nam. Như bao nhiêu người trai trẻ và trí thức khác, anh bị đẩy vào lao tù cọng sản, chịu bao đọa đày thân xác, khổ nhục tinh thần và chứng kiến sự kém cõi, u mê của kẻ giam cầm và hành hạ anh. Anh đi tù biệt xứ, nàng phải phấn đấu với cảnh áp bức, nghèo khó cùng cực để nuôi con và lặn lội thăm anh. Trong hoàn cảnh khốn khó đó, nàng tỏ ra là người vợ hiền, chung thủy và đảm đang.

Phần anh, trong những ngày tháng khổ nhục và uất ức trong tù, tình yêu thương của nàng là hy vọng và nguồn sống của anh. Anh quyết phấn đấu để chờ ngày về sum họp. Và sau bao nhiêu năm dài ngày đó đã đến. Tuy sum họp với vợ con nhưng không kham nỗi một chế độ không tình người, bộ lạc và bán khai, anh và gia đình tìm đến đất tự do Hoa Kỳ. Tại xứ tự do này anh lại phải đối đầu với nhiều thứ khó khăn khác; nhưng đã có nàng; nàng đã giúp anh quên bớt nỗi buồn tha hương và xây mộng ngắn mộng dài cho một cuộc đời mới. Với tình yêu thương và bàn tay của nàng, mộng của anh đã thành sự thật; anh đã gầy dựng một mái nhà và một cuộc sống êm ấm trên quê hương thứ hai. Nhưng không may cho anh và nàng, gia đình chưa hưởng được hạnh phúc mới bao lâu thì nàng bị bạo bệnh:

Đất khách tảo tần chưa năm năm
Mua ngôi nhà mới chưa kịp nằm
Bỗng dưng sấm chớp tan tình điệu
Bệnh ngặt giữa đường tuyết lạnh căm
(Đường Phai Nắng)

Cơn bệnh khiến nàng thành người bất lực, không thể tự lo cho chính mình và lo cho chồng con. Anh thay nàng lo cơm nước cho gia đình và cố an ủi nàng:

Em cực nhiều rồi, lo nhiều rồi
Cũng cần ngơi nghỉ… chỉ thế thôi
Cơm canh anh vẫn lo xong được
Con vẫn bên em vẫn nói cười
………………….

Ốm đau tình vẫn nở thành thơ!
Kể như em nghỉ tay làm bếp
Trời nắng trời mưa chuyện bất ngờ
Cơm nóng canh ngon đã sẵn chờ!
(Hương Áo)

Và đáng buồn hơn là cơn bệnh ngặt nghèo đó cướp đi tiếng nói ngọt ngào của nàng, tiếng nói đã bao lần làm anh phải ghen tuông vì tiếng nói đó có thể làm cho anh mất nàng:

Giọng nói ngọt ngào ai cũng khen
Họ hàng người lạ lẫn người quen
Say mê yên lặng nghe em nói
Làm anh lo sợ làm anh ghen!
(Hương Áo)

Và từ đó anh và nàng trao đổi tâm tình với nhau bằng tiếng nói thầm lặng. Với tiếng nói thầm lặng đó anh vẫn hiểu nàng như xưa; hiểu nàng lúc nàng buồn, hiểu nàng khi nàng vui:

Im lặng nhìn nhau lòng hiểu lòng
Cần gì nói chuyện quá viễn vông
Em vui anh biết, buồn anh biết
Tuy gọi một đôi… chỉ một lòng!
(Hương Áo)

Và điều tối hậu anh muốn nàng ghi nhận là dù nàng đau yếu, không nói nên lời, nhưng anh may mắn vì vẫn còn có nàng; anh may mắn vì được sống bên nàng cho trọn kiếp người:

Dẫu bệnh mà em vẫn còn đây
Cho anh được sống trọn kiếp này
(Hương Áo)

Từ đó cuộc sống anh hoàn toàn thay đổi; anh thay nàng lo cho các con, đút cơm nước cho nàng, giúp nàng làm công việc mà nàng không thể tự làm và đọc thơ cho nàng nghe. Đọc thơ thành ra một sinh hoạt thường nhật trong gia đình, một sự trao đổi giữa hai tâm hồn, một niềm vui và một lẽ sống của anh và nàng. Với nàng, không một một cử chỉ thương yêu nào qua giọng đọc của anh mà nàng không nhìn thấy; không một âm thanh nào nàng không ghi nhận; không một khoảng yên lặng nào mà nàng không hiểu, nhất là những khoảng yên lặng nói chẳng nên lời vì cảm xúc quá mạnh, khoảng yên lặng sấm sét của cơn giông hè trước khi trời đổ mưa. Với anh, đọc thơ cho nàng nghe là sự đền đáp cho tình yêu của nàng đối với anh và là một cố gắng để cùng nàng sống lại những ngày xưa tươi đẹp.**

Và rồi đọc thơ cho nàng nghe bỗng nhiên trở thành một phép lạ nhiệm mầu… Một chiều, như thường lệ, anh đọc thơ. Anh đọc bài Tương Tư của Nguyên Sa để nhắc lại tình yêu si mê của anh đối với nàng ngày xưa, nàng bỗng nhiên cất lên tiếng nói… Anh đã nghe lại tiếng nói của nàng… anh khóc lên vì vui mừng… Anh cảm ơn trời đất; đó là một ơn phước to lớn mà anh không bao giờ hiểu nỗi. Có lẽ ngày xưa, đã bao lần nàng nghe anh đọc bài thơ này, nàng thấu hiểu mối tình si mê này và đã giam giữ nó vào một chỗ trang trọng nhất trong tim óc nàng. Chiều đó, cũng đó với sự trìu mến đó và cũng với tần số rung động đó, giọng đọc anh đã tìm đến đúng nơi nàng chôn giữ khối tình si của anh, nên nàng thốt nên lời.

Từ đó, đọc thơ cho nàng nghe là niềm hy vọng của gia đình. Một ngày không đọc thơ là một ngày bỏ qua, một ngày không nghe thơ là một ngày vô vọng; mọi việc kể từ ngày đó, dù là tiếp tục, cũng là bắt đầu. Anh cần phải bắt đầu đọc nhiều, đọc nhiều để nàng nói nhiều và nói líu lo như ngày xưa:

Mưa gió cũng qua nắng đẹp lên
Rồi em hết bệnh anh vẫn hên
Rồi em lại nói cười đầm ấm
Anh một bên và con một bên!
……………..
Anh muốn em đừng nghĩ viễn vông
Ngày mai nắng đẹp gót chân hồng
Em anh lành bệnh đời thêm mộng
Tay ấm bàn tay lòng ấm lòng!
(Hương Áo)

Mấy bài thơ của Xuân Diệu, Đinh Hùng, Hàn Mặc Tử, Nguyên Sa ngày xưa anh thì thầm bên nàng, anh đã đọc nhiều lần rồi; biết tìm đâu ra những bài thơ hợp với sở thích của nàng, gây được sự rung cảm nơi nàng? Nàng cần được nghe đọc thơ, nàng cần được chiều chuộng, nàng cần sự rung cảm… và vì sự cần thiết đó anh phải làm thơ. May mắn cho anh, nhờ tình yêu của nàng mà anh biết làm thơ:

Hò hẹn hay không vẫn đợi chờ
Yêu em anh bỗng biết làm thơ
(Tình Tứ)

Thơ anh ghi lại tình nàng, và đặc biệt hơn nữa, chỉ đến với nàng qua âm thanh trầm bỗng của giọng đọc của anh. Có lẽ anh chẳng bao giờ để ý đến câu nói bất hủ của John Stuart Mill ,"Eloquence is heard, poetry is overheard", nhưng từ một chỗ nào đó sâu kín trong tiềm thức, anh đã nắm bắt được hàm ý của lời nói đó. Anh đọc thật êm dịu nhưng rõ ràng để mỗi âm thanh khi đến với nàng biến thành một hình ảnh, hình ảnh ngày mới quen nhau, những lần đưa đón hẹn hò tại Bến Tre, Long An, trường Quốc Gia Hành Chánh hay Văn Khoa... Mỗi bài thơ là một bức tranh lung linh, huyền ảo của ngày xưa, đưa nàng về khoảng thời gian thơ mộng, tươi đẹp nhất của cuộc đời. Và như thế anh đọc thơ cho nàng nghe, đọc trong những đêm dài săn sóc nàng hay những lần đẩy xe lăn cho nàng đi dạo để ngắm nắng chiều, bướm trắng và màu hoa áo:

Xe lăn ngơ ngác đường phai nắng
Bướm trắng bay theo hoa áo vàng
(Đường Phai Nắng)

***

Ca ngợi tình yêu bằng thơ thì tuyệt vời vì thơ là đối tượng của tiếng nói, nhất là tiếng nói tình yêu. Và tình yêu đôi lứa của anh và nàng thật là thơ vì xây trên ân tình: hy sinh cho nhau, mang ơn nhau và giữ tình cho nhau. Nàng một thời nhan sắc khuynh thành, nhưng anh không mang ơn nàng vi` "ngực ngãi môi trầm" theo kiểu Du Tử Lê, mà vì nàng là nguồn thơ của anh; và nàng, trong những ngày đau yếu, mang ơn anh, vì ý và nhạc trong thơ anh là lẽ sống và hy vọng của nàng.

Anh làm thơ để viết tên nàng, nhưng không viết theo kiểu Paul Éluard -- viết tên người yêu trên bóng đêm huyền diệu, trên thỏi nắng chói chang của ngày dài, trên đôi cánh chim, trên chân trời… :

Sur les merveilles des nuits
Sur le pain blanc des journées
Sur les saions fiancées
J'écris ton nom
Sur les champs sur l' horizon
Sur les ailes des oiseaux
Et le moulin des ombres
J'écris ton nom
(J'écris ton nom, Paul Éluard)

Anh làm thơ để viết tên nàng, Luân, ngay trong thơ anh với nhiều cưng chiều:

Áo mới làm duyên để anh cưng
Tóc trưa vừa gội vẫn thơm lừng
Không làm cô giáo thêm tình tứ
Anh nguyện trọn đời gọi tên Luân!
(Trăm Nhớ Ngàn Thương)

Và anh viết tên nàng, Luân, với chút đùa cợt nũng nịu:

Nũng nịu chút chơi để anh cưng
Đút ăn đút uống anh càng mừng
Như những ngày xưa anh mơ ước
Trọn đời bồng ẳm chị Tư Luân
(Hương Áo)

Luân Tâm là tâm của Luân (hay tấm lòng của Luân, tấm lòng của nàng). Anh làm thơ để ca ngợi cái tâm đó, cái tâm của sự bao dung trong tình yêu, của ân nghĩa trong tình vợ chồng và của sự hy sinh cho gia đình trong những ngày anh bị đày đọa trong trại tù cọng sản, trong những ngày nghèo khổ tiếp nối và những ngày khó khăn trên xứ lạ quê người. Cái tâm của Luân vời vợi bao la như cái "tâm" mà nàng Thúy Kiều của Nguyễn Du đã thấy một đêm nào trên trời cao với "nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời" (心). Anh viết "Luân Tâm" dưới mỗi bài thơ như lời tạ tình cho nàng; anh viết "Luân Tâm" dưới mỗi bài thơ gởi cho bạn bè, những người yêu mến nàng và hiểu nỗi khó khăn đau khổ mà nàng đang trải qua; anh viết "Luân Tâm" dưới bài thơ đắc ý nhất để nhờ nhà danh họa Vũ Hối chuyển thành bức thư họa tuyệt vời để làm quà cho nàng.

***

Luân Tâm làm thơ để vuốt ve cơn đau của người bệnh bị mất hết khả năng sinh hoạt bình thường và tiếng nói loài người. Người bệnh hao mòn vì cơn đau thể xác và tiếc nuối một thời đã qua, trôi giạt giữa thực tại và mộng tưởng, suy tư trong một khung cảnh cấu thành bởi nhiều mãnh vỡ của quá khứ và tương lai. Thơ đọc cho nàng nghe -- thơ với nhiều nhạc tính, biến điệu, biến thể, điệp khúc và màu sắc -- là liều thuốc chữa cơn đau và ru bệnh nhân vào giấc ngủ ít mộng mị và vài giấc ngủ êm đềm…

Thơ Luân Tâm là tiếng nói của tiềm thức, một tiềm thức sâu thẳm, ghi nhận đầy đủ hình ảnh và âm thanh của tất cả biến đổi vui buồn của tình yêu đôi lứa, gia đình, quê hương và đất nước. Khi tiềm thức khơi dậy, hình ảnh và âm thanh ghi nhận bấy lâu vượt thoát ra ngoài và đó là thơ Luân Tâm. Thơ Luân Tâm như giòng nước tuôn trào lai láng, lắm khi băng qua vài quy ước thông thường về chữ nghĩa và hình ảnh. Người đọc chắc sững sờ vì chàng si tình của Luân Tâm trong tuổi đôi mươi mà còn "bú tay" như trẻ thơ; và người đọc cũng phải gắng gượng lắm mới tưởng tượng ra hình ảnh "chó điên cản đường", "buồn trưa cỡi bò", hay "chó già mèo trẻ" chung vui:

Sững sờ cây trả áo xanh
Trời thương biển nhớ cũng đành...bú tay!
Tình câm còn bóng hôn gầy
Em hoa chùm gửi ta dây bìm bìm
Áo quan nào cũng được khiêng
Bàng hoàng nắng rụng chó điên cản đường...
(Trả Áo Xanh)

Ngậm ngùi cắt rún chôn nhau
Nhện con rách lưới hàng rào buồn thưa
Vàng hoa nắng bướm đời xưa
Điệu ru nước mắt buồn trưa cỡi bò
Trầu tàn cau cũng chết co
Chó già mèo trẻ giả đò chung vui
(Khô Hoa)

Nhưng mừng thay, Luân Tâm không đi quá xa như nhiều nhà thơ siêu thực. Thơ anh không hề ngụ ý thuyết phục người đọc rằng ý thức đóng vai trò thứ yếu so với tiềm thức trong việc thai nghén và hoàn thành bài thơ để biện minh cho những ý thơ không hình thù, nối kết nhau vu vơ; thơ anh không chuyên chở lời phàn nàn rằng ngôn ngữ bất lực trong việc diễn đạt tiếng nói huyền ảo của tiềm thức để bênh vực cho lối dùng ý thơ và ngôn từ mới lạ nhưng tẻ nhạt, khô cứng.

Hương Áo không phải là một tập truyện thơ nhưng lại gói gém một chuyện tình, một chuyện tình đẹp và buồn. Tuy vậy, người đọc dù không biết gì về câu chuyện tình đó vẫn cảm nhận được hương thơ toát ra từ Hương Áo. Dù không biết gì về câu chuyện tình lâm ly giữa Roméo và Juliet, người rành điệu khi nghe hòa tấu khúc Romeo and Juliet của Tschaikovsky vẫn thưởng thức và ngợi khen nét nhạc tuyệt vời, biến chuyển theo từng gút mở của câu chuyện. Nhận xét này là một cách nói cầu kỳ nhưng diễn đạt được một điều đáng nói về Luân Tâm: Hương Áo rất là thơ:

Thơ tình yêu đôi lứa thật là ý vị:
Có hai con bướm theo rình
Hôn nhau để dạy chúng mình ...học hôn?
(Ca Dao)

Anh xin làm gió xuân tha thiết
Hôn trộm một lần thật ... đắm say!
(Tình Tứ)

Thơ tình mẹ đậm đà và bao la:

Mẹ nuôi được một con heo
Bao nhiêu nồi cám, nồi bèo sớm trưa
Mà tiền chẳng đủ để mua
Cho con áo mới lên chùa dâng hương
Quản bao dãi nắng dầm sương
Quanh nhà bầu bí mướp hương mấy giàn
Bạc hà hành hẹ dưa gang
Khế chua bưởi ngọt bên hàng xoài tơ...
(Giấc Ngủ Chưa Yên)

Thơ tình quê hương rất thiết tha:

Nắng gắt trưa hè rộn tiếng ve
Chuồn chuồn nghiêng cánh hôn bóng ghe
Ngày mai có lẽ trời mưa lớn
Đám mạ xanh màu áo mới khoe
Gà gáy dâng buồn tiếng võng trưa
Con chim chích nhỏ ru bóng dừa
Lá sầu riêng rụng khô bờ giếng
Hoa cải thẩn thờ nhớ tiếng mưa
(Tình Quê)

Và thơ thân phận người trai miền Nam sau tai họa tháng 4 năm 1975 thật là thấm thía:

Vui vẫn khóc, buồn vẫn cười
Bao nhiêu ngang trái tại người? tại ta?
Mất quê hương không cửa không nhà
Không tình không nghĩa hay là không không?
(Cỏ Hoang)


***

Hương Áo rất riêng tư, chỉ viết vì một người và chỉ đọc cho người ấy nghe. Hương Áo tuy không "rao bán" nhưng không sợ "người đời thóc mách xem". Một người đọc dù thóc mách nhưng với một chút bình tâm cũng cảm nhận ngay rằng chuyện tình Hương Áo rất đẹp, ân nghĩa, thủy chung; và thơ Hương Áo rất hương vị, hương vị của chiếc áo đã nhốt thời gian và thương yêu của một cuộc tình say đắm.

Nguyễn Phụng
Raleigh, North Carolina
Tháng 3/2008
________________

(*) Luân Tâm Phan Văn Tám (Cao Học 3, Ban Hành Chánh) đóng góp thường xuyên cho Tập San Hành Chánh Miền Đông và Diễn Đàn Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh Đốc Sự 14. Hương Áo không đề giá bán. Bạn đọc và đồng nghiệp có thể liên lạc với Luân Tâm tại 18504 Denhigh Circle, Olney, MD 20832 hay
luantam@gmail.com.

(**) Đầu thập niên 1970 nhiều sinh viên và cựu sinh viên Quốc Gia Hành Chánh tìm đọc Má Hồng của nhà văn Quốc Gia Hành Chánh Đỗ Tiến Đức. Má Hồng trúng giải thưởng văn chương toàn quốc năm 1969 và làm nhiều người đọc ưu tư về nền hành chánh và vai trò của những Phó Đốc Sự như Phó Quận Trưởng Đạm, nhân vật chính của Má Hồng. Người Phó Quận trẻ này thật là tệ. Trong hoàn cảnh khó khăn của nền hành chánh địa phương lúc bấy giờ, Đạm, cũng như các Trưởng Ty Bưu Điện, Thanh Niên…, không một chút ý thức nào về trách nhiệm, quản trị, kỹ năng hay hữu hiệu. Tựu trung, anh chỉ là cái máy đi tìm ái tình vặt và kết quả là anh là người có nhiều người tình nhất trong đám bạn bè.

Người hành chánh phải chu toàn việc nhà rồi mới lo nổi việc nước. Không ai có thể phàn nàn Đỗ Tiến Đức vì tác giả nói lên một sự thật; nhưng đó chỉ là một trong nhiều sự thật; còn có biết bao nhiêu sự thật về sự hy sinh cao quý cho việc nước và sự tận tụy toàn vẹn trong việc nhà của những người Quốc Gia Hành Chánh khác. Nước đã mất, nhiều mái nhà đã suy sụp, không biết chúng ta phải nghĩ gì về việc nhà của những người như Phó Quận Trưởng Đạm và câu chuyện tình nhà êm ấm gói ghém trong Hương Áo?

(Trích trong Tập San"Hành Chánh Miền Đông"(Tiếng nói cuả Hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh Miền Đông Hoa Kỳ),số 14,Xuân Kỷ Sửu 2009,tr.170-180)

Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2009

LT017- Từ LÂM THANH

Nẻo nhỏ vào thơ Luân Tâm

Trong vườn thơ văn hải ngoại vừa xuất hiện một thi tâp mang tên Hương Áo (tháng 10/2007). Tác giả là Luân Tâm, người chỉ mới cầm bút cách nay hơn 5 năm. Đây là đứa con đầu lòng, một trong 3 đứa sẵn sàng chào đời trong nay mai. Riêng tập Hương Áo này, khá đồ sộ, gồm 151 bài thơ dài, với 360 trang chữ chật ních.

Tôi hân hạnh có Hương Áo trong tay và cả gan đọc qua cho biết. Dù chưa cảm-hiểu hết, tôi cũng cảm thấy mắc nợ tác giả. Niềm tâm sự, nỗi suy tư của mình phần nào đã được tác giả ghi lại giùm rải rác suốt tập thơ. Những viên ngọc đẹp, những cánh hoa tươi góp phần tô điểm thêm cho đời. Rồi tôi cũng cảm thấy cần giải bày chút gì để tỏ lòng trân quí những cánh hoa, những hạt ngọc và để tạ ơn tác giả Luân Tâm.

Muốn đọc cho xong Hương Áo phải mất cả tuần. Muốn thưởng thức kỹ hơn thì cả tháng. Sạu cùng, xếp sách lại, chưa chắc hiểu hết. Với nét đặc trưng như vậy, với vóc dáng lẫn tâm hồn như vậy, "Hương Áo” quả là một hiện tượng lạ. Tôi thầm nghĩ chỉ riêng tập thơ này thôi cũng đủ tiêu chuẩn định vị tác giả là một thi-sĩ có tầm cỡ.

Với tư cách là một độc giả bình thường, không rành về thơ lắm, tôi xin được ghi lại vài cảm tưởng chung chung về tập thơ nói trên. Đọc Lời Tựa của nhà thơ Dương Quân, Lời bạt của nhà văn Nguyễn Bữu Thoại và cả bài Lời Nói Đầu của chính tác giả in trong Hương Áo, ai cũng cảm thấy đó là con đường rộng lớn đưa khách vào cõi huyền hoặc thơ Luân Tâm rồi. Do vậy, bài viết này xin được xem là một nẻo rất nhỏ, một cái nhìn xa xa, hướng vào vài góc cạnh của khối kim cương hết sức đa diện. Nếu có gì sai sót, kính xin quí vị và tác giả thông cảm cho.


1. Hương Áo hay Áo Hương?

“Hương Áo” là tựa một bài thơ, được chọn đặt tên cho toàn thi tập.
Hai từ đó phát ra âm điệu ngọt ngào, vời vợi, mông mênh. Làm sao không gây liên tưởng tới 2 câu thơ xưa bất hủ:


“Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi!”


Nhiều vị đã nhắc tới nàng tiên thơ của Luân Tâm, cùng lúc cũng là người yêu mộng tưởng, người bạn tri âm, người vợ dịu hiền, nàng tiên mắc đọa. Quả thực tình học trò rồi nghĩa phu thê ở đây là một chuyện tình quá đẹp đẽ, cao vời, chỉ có một trong muôn ngàn, hay thậm chí chỉ có một không hai. Ai cũng khen Luân Tâm là người chồng tốt, là kẻ chung tình! Sở dĩ được như vậy là vì Luân Tâm rất may mắn có được một “nàng tiên” mắc đọa, người vợ vẹn toàn đức hạnh, hiền thục đảm đang, rất gương mẫu, rất đáng được chung tình với. Cả hai đều hiếm trên đời.

“Hương áo!” Trước hết là hương của chiếc áo người thương, áo vợ hiền. Nhưng, có phải do một sự tình cờ hay chủ ý, Hương áo không chỉ có gói ghém riêng cái tình phu thê thiêng liêng đó, mà còn phủ kín cả cuộc đời. Áo mẹ, áo cha, những chiếc áo đẫm mồi hôi nước mắt, áo mùi bùn mùi cỏ, áo che ấm tuổi thơ. Rộng hơn, áo còn là áo của thời gian, áo của không gian, của dòng đời, của lịch sử, của văn hóa, của đạo lý nghĩa nhân. Người đọc còn bắt gặp hàng trăm lần chữ “Áo” rải rác suốt tập thơ: áo ngày, áo đêm, áo rừng, áo mây, áo mưa, áo lá, áo hoa, áo nắng, áo gió, áo sương, áo bụi, v. v... Luân Tâm có vẻ rất sính với từ “áo” . Hương áo lung linh sống động, xa xôi héo hắt hay kề cận thân yêu, như nỗi nhớ niềm thương không rõ tên về một miền quê hương xa cách. Hương Áo chính là hương đời, là hương trần-gian, đượm thắm tính nhân bản và làm thổn thức con tim.

Như vậy “Xếp tàn y lại để dành hơi” có thấm gì khi so với hai tiếng “Hương Áo” này?Đọc “Hương Áo”, hồn người đọc sẽ bồng bềnh trôi theo sóng gợn chập chùng hay đắm chìm theo tâm tư sâu thẳm của tác giả. Nguyên tập thơ chính là chiếc áo tình cảm muôn màu mà Luân Tâm đã “áo” lên tất cả mọi thứ “hương trần gian” đó.


Hương áo hay là anh Áo hương?
Làm sao áo được hết yêu thương!


2. Suối nguồn bất tận.

Hương trần gian trùng trùng bất tận lần hồi được tác giả phổ vào thơ, chuyển hóa thành hương thơ. Thơ thăng hoa, bay cao, hay cuộn chảy, trào tuôn không biết mệt, trong khi người đọc phải bắt mệt trước lưu lượng hãi hùng của nó. Liên tưởng tới hình ảnh cánh tay vung từng nắm hạt mọng lên trời, hay hơi thở toát ra từng ngụm khói sương của lữ khách trên cao nguyên lạnh giá. Cả hai, có phải đó là hình ảnh của Luân Tâm làm thơ? Nhất cử nhất động đều toát ra thơ!
Nguồn thơ Luân Tâm như những dòng nước ngầm, nước mội, từ đâu đó đã âm thầm tích tụ thành biển hồ mênh mông sâu thẳm, thỉnh thoảng đã có vài bài được phổ biến trong phạm vi thân hữu hạn hẹp, như những con rạch khiêm nhường thoát ra, róc rách uốn mình bên suối rừng u huyền, ít ai biết hoặc lưu tâm theo dõi. Nay thì” Hương Áo” bung ra, như đê vở, như đập tràn: như dòng sông hoành tráng 9 cửa mang mầu mỡ phù sa tràn ngập ruộng đồng bát ngát, như dòng suối hùng vĩ với nước nguồn ngọt mát tỏa vào vườn hoa đang khô hạn chốn tha hương.


Xin hãy liếc mắt qua dáng vóc thì sẽ thấy.

Có bao giờ độc giả từng được thấy tập thơ đầu tay của một người mới cầm bút chỉ hơn 5 năm mà dày nặng tới hơn 360 trang? Chẳng vậy mà còn có thêm 2 tập khác với số lượng thơ tương đương sắp được chào đời! (*). Thói thường người ta in thơ chỉ chú trọng về nét thanh thoát, nhẹ nhàng như tranh thủy mạc. Một bài thơ gồm năm, mươi câu đã chiếm trọn một trang, chiều cao bài thơ chiếm 2 phần 3, thậm chí có khi chỉ in từ giữa trang đổ xuống. Những bài thơ của Luân Tâm hầu hết rất dài, từ 1 trang trở lên. Có rất nhiều bài chiếm 3, 4 trang giấy. Như bài “Hương Áo” và bài “Lòng Chị” có 88 câu, bài “Một Chút Son Môi” và “Giấc Ngủ Chưa Yên” cùng có 108 câu. Trong suốt tập thơ, ngoại trừ ít trang phụ bản hình ảnh, thư pháp do họa sĩ Vũ Hối và tranh của Họa sĩ A.C.La Nguyễn thế Vĩnh, trang nào thơ cũng đầy ấp từ đầu tới cuối trang, câu chữ chen chút khít rịt, như hoa nhiệt đới, như lúa mạ phì nhiêu của miền Cửu Long. Nếu tính trung bình mỗi trang chuyên chở 20 câu thôi thì trong 300 trang ròng dành cho thơ, tập Hương Áo đã chứa gần 6.000 câu. Nó đã làm cho liên tưởng đến trên 3.000 câu thơ Kiều. Không biết cụ Nguyễn Du đã dành bao nhiêu thì giờ để hoàn tất. Tôi chưa dám nói tới giá trị nghệ thuật hay nội dung thi tứ, chỉ riêng về hình thức và số lượng thôi, thơ Luân Tâm trong 3 tập gộp lại đã có gần 2 vạn câu. Nếu nói khiêm nhường hơn thì cũng có khoảng 15 ngàn câu! Một trường giang! Một đại hải! Tất cả được sáng tác chỉ trong vòng 5, 6 năm. Làm sao mà không đánh giá là đồ sộ? Sao không gọi là hiện tượng hiếm hoi? Viết không biết mệt như vậy mà Luân Tâm vẫn cứ than “Thi, thư bất tận ngôn”?

Sức mạnh nào đã đánh động và nuôi dưỡng cảm hứng mãnh liệt bền bỉ đến như vậy?


Đã có hàng muôn ngàn thi tập được in ra ở hải ngoại. Đó là một trong những phương tiện tâm tình của những người xa xứ nhớ quê hương. In ra để biếu làm kỷ niệm! Động lực đầu tiên thúc đẩy Luân Tâm chắc cũng vậy. Viết cho mình, rồi viết cho người thân và thân hữu tri âm. Trong lời trần tình, Luân Tâm có ghi rõ. Làm thơ để tìm chút nguồn vui cho người vợ hiền đang lâm bệnh. Làm thơ để đọc cho vợ nghe!! Thơ đã giúp cho hai người đào xới tuổi thơ, moi lên kỷ niệm, tìm lại vùng trời đã mất làm thức ăn tươi mát cho tâm hồn. Thế mà kết quả không ngờ. Hai người đã tìm lại hương áo ngày xưa. Bệnh tình của người vợ hiền từ từ thuyên giảm,sức khoẻ dần dần được hồi phục. Thơ len lỏi vào mọi ngõ ngách tâm hồn, bàng bạc trong cuộc sống thường nhật. Tác giả bị cuốn hút, mê say chìm đắm trong cõi mộng thực, cũ mới, có không, mịt mùng bất tận. Tiên thơ đến tận nhà, ở trong nhà, rất thực, hiện hữu, không cần lên núi tìm kiếm. Chất liệu thơ Luân Tâm hầu hết là những kinh nghiệm sống thực hoặc là những dữ kiện sờ sờ trớc mắt.

Những bậc tiên thơ ngày xưa, hay chính vài thi sĩ được xếp vào hạng “lớn” cận đại, thường coi say là nguồn cảm hứng, thậm chí không say mà cũng giả bộ say. Thơ túi rượu bầu. Tản Đà, Vũ Hoàng Chương, Bùi Giáng, v.v... cần có rượu. Có vị còn mượn thêm nàng tiên nâu, tiên trắng ấp ủ mới chịu nhả ngọc phun châu. Toàn là ảo tưởng, ảo giác, vị kỷ, riêng tư. Chất thơ rổng bệu mà thường vay mượn từ đâu đâu. Rượu dễ tạo cảm giác dị thường, cũng dễ giúp nhà thơ thành lập dị, khác chúng. Thơ có rượu mới hay, thơ điên điên lại càng hấp dẫn?


Nhà thơ “non trẻ” Luân Tâm (với tuổi già trên 60) cũng có lối lập dị riêng. Cũng say. Nhưng chẳng hề say rượu mà chỉ say tình. Tình yêu vợ chồng, mẹ cha, thầy trò, anh em bạn bè và tình quê hương. Hiếm khi Luân Tâm bị hay được “điên” hoặc “mê sảng”, chỉ có lúc ngỡ rằng nàng tiên bỏ cuộc về trời:

Muốn khóc mà không khóc được đâu
Bây giờ mình đã thực xa nhau
Em như sương khói như mây trắng
Không thể yêu anh đến bạc đầu..

(Không Màu. Tr. 114)

Lệ đã khô rồi máu cũng khô
Nằm ôm sương gió ôm mả mồ
Nhớ lời nũng nịu...hương chăn gối
Em nỡ lặng im nỡ hững hờ?

(Màu Đất, tr. 248)

Chính tâm hồn mẫn cảm trù phú là cái nền phù sa bất tận cho thơ Luân Tâm nảy mầm. Chính cái kho chứa ký ức quê hương vĩ đại là nguồn thơ êm dịu châm thêm cho suối thơ trôi chảy miên man. Thật ra mầm thơ của Luân Tâm đã được cấy rất sớm vào tâm hồn và tiềm thức. Như chính tác giả thổ lộ, lúc còn thơ ngoài việc được “tắm trong ca dao”, câu hò và điệu hát ru em, cậu bé Luân Tâm được gia đình khuyến khích đọc rất nhiều truyện bằng thơ và các loại sách tốt. Ngôn từ đã tích tụ cả bồ. Ý thơ đầy ứ tim non. Nàng thơ lấp ló vào hồn. Nhưng cảnh đời bất ổn, vận nước không may, bể dâu tiếp nối đã ức chế bao nhiêu tâm tình tuổi trẻ. Cũng phải trải qua thời gian tù tội, qua một thời quản chế gian khổ bất an, rồi Luân Tâm mới được định cư tại Mỹ theo diện HO năm 1994. Khi cuộc sống tạm yên ở xứ người, bỗng “nàng tiên bị mắc đọa” thì bao nhiêu ẩn ức lúc đó mới tuôn trào, hỏa diệm sơn phát nổ, hồn thơ chấp cánh bay lên cao vút. Bởi vậy thơ Luân Tâm, trong lúc ban sơ mới “xuống núi”, thấy tuy nó mới mà đã cũ, tuy non trẻ mà già dặn. Chững chạc, hiên ngang, phóng khoáng. Đây là cung cách của một hành giả thuần thành, hơn là của anh học trò bỡ ngỡ tập làm “thơ cóc nhái” như tác giả thường tự giễu mình. Không có thơ loạn, thơ say, thơ điên, thơ tếu. Một mực thơ tình cảm, hiền hòa trung hậu.

3. Em tắm ngọt ngào trong ca dao.

Đây là câu dẫn nhập cho bài “Ca Dao” (tr.55). Lại có thêm điểm khác thường trong dáng dấp nàng thơ của Luân Tâm. “Em tắm ngọt ngào trong ca dao”. Nàng có vẻ rất bình dị, thật thà nhưng rất lành mạnh như cô gái vườn quê. Nàng chỉ có hai loại áo là Áo Bà Ba đơn sơ, dịu hiền và Áo Dài truyền thống thướt tha. Tôi muốn nói tới thể loại thơ mà tác giả thường dùng. Chỉ có hai thể thơ quen thuộc: Lục bát và Thất ngôn. Hỏi tại sao, được tác giả giải thích lý do là “con người chỉ có 2 chân”. Đúng vậy, chỉ có hai chân mà đi từ sơ cổ đến ngàn sau, từ đồi núi xuống đồng bằng, từ rừng sâu ra biển cả, từ quê nhà tỏa khắp năm châu.

Lục bát mộc mạc như nghề nông của dân tộc, là tiếng ru của mẹ, là hơi thở ông bà, là tiếng gió quê hương, thoang thoảng sau hàng tre, loan tỏa khắp ruộng đồng. Luân Tâm sanh ra và lớn lên nơi quê hương của cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu, là kẻ hậu sinh, dường như cũng muốn tận dụng thể thơ của Lục Vân Tiên, bình dị như ca dao?

Lá tre rụng xuống ao nào?
Mấy con cá nhỏ che đầu mộng mơ
Thương con tôm tích gà mờ
Búng càng ra khỏi hang chờ cá non.

(Hương Quê, tr. 68)

Thất ngôn là bảy chữ kiểu thơ Đường, nhưng ở đây niêm luật bị mài mòn góc cạnh, cho nó bình lặng hơn, êm dịu hơn:

Tha thướt em đi như mây hồng
Xin cho anh được cùng sang sông..

(Như Mây Hồng, tr. 117)

Hai thể thơ là đủ. Chẳng cần biết thêm thơ cũ thơ mới, 2 chữ, 4 chữ, ngũ ngôn, 8 chữ hay thơ tự do gì cả. Có người bảo Luân Tâm là người chung tình với vợ? Không chỉ có vậy. Ở đây cũng thấy sự chung tình với lục bát ca dao.

Rồi với cả cách dùng từ dụng ngữ nữa. Cũng là người chung thỉ hết mực với văn hóa dân tộc. Với bằng Cử Nhân Văn Khoa chắc là không thiếu chữ. Vậy mà chẳng thấy những điển tích, sáo ngữ, địa danh bên Tàu như Đường Minh Hoàng, Tô Châu, Hoàng Hạc Lâu trong thơ Luân Tâm. Không có sông Danube, thành Vienne hay Venise ở bên Tây. Mà toàn là cua cá, cóc nhái, dưa bí, cỏ rau, cây trái, bùn sình, v.v… của quê hương. Toàn là ảnh tượng quê mùa, ngôn từ bình dân. Ít có ai can đảm như Luân Tâm. Đất mới do ông bà bỏ xương máu khai phá để có cây lành trái ngọt, ngôn ngữ mới ông bà phát kiến và sử-dụng theo hoàn cảnh đổi thay. Có phải yêu thương và bảo tồn 2 thứ đó là điều hãnh diện đối với tác giả? Xin nhắc lại mấy câu ca dao:

Gió đưa cây cải vìa trời
Rau râm ở lại chịu lời đắng cay.

Hoặc
Bìm bịp kêu nước lớn ai ơi
Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê.

Ca Dao)

Còn Luân Tâm thì:

Tủi thân ăn ớt không cay,
Khổ qua không đắng, chanh xoài không chua
Buồn rung tàu chuối lá dừa
Hoa tàn cây héo thềm xưa thẩn thờ!
Trời mưa: cá nhảy lên bờ,
Hết ham bắt cá, đặt lờ, giăng câu..

(Cỏ Khô tr. 59)

Có phải chính những thứ rau đắng, rau má, trái cau, trái dừa…, hoa bưởi, hoa lục bình, điên điển, v.v.. đã thành xương, thành máu, đã núp kỹ trong tiềm thức của Luân Tâm, thành những hạt mầm bất diệt, giờ gặp cơ duyên tốt nảy nở thành vườn hoa.

Ngôn ngữ thơ thì vậy, nhưng về khía cạnh nghệ thuật thì Luân Tâm đã vượt ra khỏi thói thường, đã thành thầy bùa thầy pháp, với những sáng kiến bất ngờ, với cách thế phối từ, đão ngữ, dàn ý rất lạ. Thí dụ như:

Xanh trời xanh biển xanh môi...
Cội nguồn nghi hoặc ngại lời mai sau
Hết thấp đất hết trời cao
Gió xoay lòng huyệt gió bào xương da...

Lòng đau rụng sạch tay chân
Lăn hoài trong cõi phù vân ỡm ờ
Ảnh ai mà nhặt lên thờ
Nhìn đi nhìn lại còn ngờ là...ta?

(Xanh Môi, tr.209)

Tuy có hao hao Bùi Giáng nhưng dễ cảm nhận hơn. Hoặc như:

Người che mặt ta giấu thân
Giữa trời lận đận nợ nần đục trong
Tay khô ủ gót chân hồng
Nghiêng so kỷ niệm cuối bồng tương lai
Chợt đau thấu nắp quan tài
Ta ru người ngủ áo bay thẩn thờ...

(Cuối Bờ Viễn Du, tr 319)

Có người đã xếp thơ Luân Tâm ở một khía cạnh nào đó vào loại “siêu thực” . Thực ra chắc tác giả không muốn tự nhốt mình vào bất cứ “trường phái” nào. Tôi nghĩ đó chỉ là sự trùng hợp về chút tiêu chuẩn của cái được gọi là “siêu thực”. Nó nằm trong tứ thơ nhiều hơn là hình thức. Chú tâm gò mình vô khuôn mẫu hay trường phái nào đó, cái hồn nhiên chân chất của thơ có còn không? Mầm thơ có sanh ra quái thai mệnh yểu hay không? Có nhiều thi sĩ đã chết oan khi “dấn thân” theo đuôi “thời thượng” được khơi dậy từ Âu Mỹ. Xin quí vị nhớ lại thời đầu thập niên 60 thế kỷ trước, và hiện nay, nhìn quanh quất đâu đây thì cũng thấy. Một số người hãnh diện, tự hào vì đu được cái đọt héo Hiện-sinh thuở ấy hay, bây giờ, nắm cái đuôi Hậu hiện đại gì đó, rồi phát loa inh ỏi về việc cách tân khó thuyết phục của mình. Luân Tâm, dù lắm khi có ý tưởng lạ, tứ thơ bí hiểm, dường như vẫn men theo lối mòn, theo gót đám đông. Rất khó xếp thơ Luân Tâm vô một khuynh hướng hay khuôn mẫu nào. Hơi của Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử ... cũng có. Hương của Nguyên Sa, Nguyễn Tất Nhiên hay của Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư... cũng có. Có đủ hết. Trên suối thơ mấp mô chập chùng, lấp láy quanh co của Hương Áo, ánh lên đủ hết các màu sắc: xưa- nay, cổ điển- tân thời, bình dân- bác học, hiên thực- trừu tượng, cụ thể-siêu hình, v.v... và đôi khi có chút thiền và chút triết[/color]. Cho nên, nếu vị tình, không chê lối đó là bảo thủ thì tặng cho nhãn hiệu “gìn vàng giữ ngọc” cũng hợp tình phải lý. Xin xem vài thí dụ:

Lang thang tìm lại dấu bụi đường
Em mới dẫm lên còn dễ thương
Nhặt lên âu yếm cho vào túi
Mà ngỡ ngọc ngà ngỡ sắc hương..

(Như Mây Hồng, tr. 117)

Đọc nghe từa tựa Nguyên Sa?

Hoặc là:


Dấu ngã dấu huyền dấu sắc không
Trôi theo đường thẳng bám đường vòng
Đếm từng dấu nặng từng dấu phẩy
Không đủ đền bù năm tháng không..

(Trong Lòng Gió, tr. 206)

Đọc thấy hơi thơ là lạ và nhuốm chút triết kiểu Bùi Giáng?
Cũng có cái gì nghe rờn rợn kiểu Hàn Mặc Tử, như:


Bao đêm thức trắng nhớ trăng tàn
Nghe tiếng côn trùng lạnh thở than
Nghe mình mục rã như tro bụi
Hoa dại xây mồ cạnh cỏ hoang!

(Không Nhớ Tên, tr. 245)

Còn nhiều, rất nhiều trong hơn 300 trang thơ Hương Áo sự trùng hợp hay tương tợ như trên, mà chắc chắn không phải là sự bắt chước mù quáng vì mỗi người diễn đạt những ý tứ riêng tư, độc đáo của mình. Và trên đời, chí lớn gặp nhau là thường.

4. Cái nết đánh chết cái đẹp

Đã rõ dáng vóc nàng thơ của Luân Tâm là cô gái quê. Nhưng xét về tâm hồn thì người ta không khỏi ngạc nhiên. Tôi định nói về ý tứ mà thơ Luân Tâm bao hàm, cái hương trời nét ngọc mà Luân Tâm đã “áo” bên trong những vần thơ bình dị đó. Cái hồn của thơ có bay bổng hay không là do sự sáng tạo. Nhìn từ khía cạnh này người đọc mới thấy những thi tứ bất ngờ, những sáng tạo vô biên của tác giả.

Luân Tâm có nhiều lợi thế hơn nhiều người làm thơ khác. Từ mùi bùn non áo vá đến hương áo dài phấn son, từ nhà lá đơn sơ đến nhà tầng cao nghệu, từ đi bắt ốc hái rau ngoài đồng cho đến ngồi trong đại sảnh soạn thảo văn thư, v.v... Đã trải qua hết. Thượng vàng hạ cám có hết. Do đó cái tình quê, tình người ở đây tỏ ra tự nhiên như nước với sông, gắn bó, bàng bạc, mênh mông, bất tận. Khác với tình thương hời hợt góc phố hẹp hòi với con đường Gia Long, Lê Lợi, quán La Pagode, Thanh Thế hay “Con đường Duy- Tân cây dài bóng mát”, sớm bỏ đi và sớm bỏ quên. Chính cảnh sống và lớn lên với cỏ cây mây nước miệt vườn Cửu Long hiền hòa đã giúp cho tình yêu đó càng tha thiết thâm sâu. Nhớ là nhớ hoài. Xa thì cứ mộng thấy quê hương. Toàn TậpThơ của Luân Tâm đã thể hiện rất cụ thể những điều đó. Nàng thơ trong Luân Tâm đã làm cho người đọc quên mất cái dáng vóc bình dị kém cao sang của mình, mà bị lạc vào chốn tâm linh u huyền mà rất diễm lệ.

Cũng vẫn là điệu nói thơ quen thuộc nhưng chứa chan tình mẹ tình quê như:


Mẹ nuôi được một con heo
Bao nhiêu nồi cám, nồi bèo sớm trưa
Mà tiền chẳng đủ để mua
Cho con áo mới lên chùa dâng hương
Quản bao dãi nắng dầm sương
Quanh nhà bầu bí mướp hương mấy giàn
Bạc hà hành hẹ dưa gang
Khế chua bưởi ngọt bên hàng xoài tơ...

(Giấc Ngủ Chưa Yên, tr.311)

Cũng còn là sự thể hiện chân chất, như trong bài khóc Thầy Nguyễn văn Bông:

Khóc Thầy: hận hải mang mang!
Trời cao xuống thấp để tang thương Thầy!
Chính danh đại nghĩa còn đây
Đêm đêm thức giấc bóng ai giữa trời?

(Cánh Hồng Việt Nam, tr. 189)

hoặc như:

Mai sau ta có đi rồi
Làm ơn gọi nắng mây trôi khóc giùm
. . . . . . . .
Tiễn đưa cuối đất cùng trời
Cũng chưa nói hết được lời biệt ly

(Một Lần Đi, tr. 264)

Rồi bước qua khúc ngoặc ngữ, ngôn:

Sững sờ cây trả áo xanh
Trời thương biển nhớ cũng đành...bú tay!
Tình câm còn bóng hôn gầy
Em hoa chùm gửi ta dây bìm bìm
Áo quan nào cũng được khiêng
Bàng hoàng nắng rụng chó điên cản đường...

(Trả Áo Xanh, tr. 121)

Và sau cùng, đọc giả thường bị lạc vào cõi huyền hoặc bí hiểm của rừng thơ Luân Tâm:

Giọt mưa gợn sóng mặt hồ
Mặt hồ gợn sóng đợi chờ chiêm bao
Chiêm bao gợn sóng trăng sao
Trăng sao gợn sóng lối vào hư không.
. . . . . . . . . . .
Chân người ai vác đi đâu
Tay ta ai bắt nhịp cầu lãng quên
Quá quen sao vẫn hỏi tên
Hay là thay xác mà quên đổi hồn?

(Sóng Gợn, tr. 178)

Bởi vậy có người bảo thơ của Luân Tâm là siêu thực, trừu tượng hay bí hiểm, cũng không phải là sai. Quá đúng, vì rõ ràng muốn tìm bắt cho hết ý tứ bao hàm trong thơ Luân Tâm thì quả thực, đối với tôi, là công việc của người mù xem voi.

Cảm tưởng chung là dường như tác giả làm những sự ổng gộp, thay vì tổng hợp, những liên tưởng. Những liên tưởng này đi ngược lại quá trình xem voi. Thấy cây quạt, liên tưởng tới con voi, rồi vẽ cây quạt mà biểu người đọc phải hiểu đây là con voi. Hoặc giả từ câu ca dao “Em tôi khát sữa bú tay” rồi tác giả dùng từ “bú tay” để tả những cái hụt hẫng về tình cảm, cái cô đơn của thân phận. Hầu hết những hình ảnh khác cũng vậy. Có vẻ như là lối ẩn dụ mà không hẳn là ẩn dụ. Tượng trưng mà chẳng phải tượng trưng. Cho nên thơ Luâm Tâm thật là bí hiểm đối người đọc mà lại hả hê mãn nguyện cho chính mình. Trừu tượng hay Siêu thực ư? Chắc không hẳn. Trong cõi ký ức Luân Tâm có chứa quá nhiều chất liệu thơ, văn, quá nhiều châu ngọc và nhiều kỳ hoa dị thảo, cho nên khi vườn thơ Luân Tâm hình thành, người ta thấy trong đó có một sự tổng gộp tự nhiên những chất liệu đó, như dòng máu có chứa ngàn chất dinh dưỡng tổng gộp một cách tự nhiên từ thức ăn thường ngày. Nhìn một cánh hoa thơ của Luân Tâm, nếu bảo là hoa hồng cũng đặng, bảo hoa cúc, hoa lài, vạn thọ... cũng chẳng sai, bởi vì tác giả đã nhặt từng tay từng cánh của đủ loại hoa mà ghép lại thành một bông hoa bí hiểm theo ý mình. Nhặt muôn ngàn hạt giống quí mà sáng tạo cho riêng mình một vườn thơ, rừng thơ.

Phải có sự tưởng tượng và liên tưởng mãnh liệt mới mong tìm ra ít nhiều ý nghĩa của thơ Luân Tâm. Cần đọc đi đọc lại nhiều lần thì cái ý mới lấp ló xuất hiện mời gọi như nàng tiên mơ hồ trên cõi non xa. Đến một lúc “chứng” được một ứng nghiệm nào đó thì mới hít hà khen “tuyệt”.

Nhưng thói thường thì khi thưởng thức thơ, đọc lên nghe âm điệu hay hay, thấy ảnh tượng rực rỡ thì cũng đủ vui rồi. Nghe nhạc Trịnh công Sơn mịt mù mây khói mà ai cũng thích. Cái đẹp không tên, cái ảnh không rõ thì càng hấp dẫn lâu dài. Không biết chính tác giả Luân Tâm đã có chủ ý đánh vào cái yếu huyệt tâm lý này hay không, nhưng chắc chắn thơ Luân Tâm sẽ thâm nhập, thẩm thấu từ từ vào tâm tư người đọc và sẽ để lại ấn tượng khó mờ không thua suối thơ Bùi Giáng trước đây.

Riêng tôi, những ấn tượng sâu đậm nhất hằn mãi trong tâm hồn sau khi đọc Hương Áo, ngoài cái tình nghĩa phu thê của tác giả, lại còn có hình ảnh cỏ cây, sông nước, vườn tược ruộng đồng, rau đắng, ốc bươu vì quê tôi cũng là vùng phù sa nằm giữa hai cánh tay ngọt ngào khoan dung Sông Cửu. Những thứ đó đôi khi đã làm cho tôi cảm thấy ngộp thở đứng tim bay bổng. Vì nhớ nhà. Xin cảm ơn thi sĩ Luân Tâm./.

TX Lâm Thanh,
OZ Nov. 2007

Chú thích:

(*) Tác giả có ghi 2 thi tập sắp ấn hành là
- Ngơ Ngẩn Dấu Buồn
- Trong Vết Bụi Mờ.


(Nhà Văn, Nhà Thơ LÂM THANH, HAI QUẸO, tức LÂM THÀNH HỔ,Cựu SVQGHC khóa Đốc Sự 15)

LT016- Từ VŨ THI AN

Nét Nhỏ Vào Thơ Luân Tâm

Trong những ngày chót còn lại của năm 2007, rất bận rộn để chuẩn bị cho một chuyến đi xa, bỏ lại sau lưng bao nhiêu gút mắt của cuộc sống nhàm chán trong đời sống hàng ngày, tôi hân hạnh được đọc bài giới thiệu tác phẩm Hương Áo của nhà thơ Luân Tâm do anh Lâm Thanh gửi sang từ Úc Châu.

Thú thật tôi cũng vừa được làm quen với nhị vị Luân Tâm và Lâm Thanh cách đây vài tháng thôi, nhưng tôi đã dành cho nhị vị một ngưỡng mộ đặc biệt.

Vốn có tính “Kiêu Kỳ” thường tình cùa Nữ Phái hình như tôi chưa bao giờ viết thư làm quen bất cứ ai trong giới nam tử. Nhưng tôi đã rụt rè gửi điện thư đến anh Lâm Thanh sau khi đọc những bài văn “Miệt Vườn” do anh sáng tác với bút hiệu là Hai Quẹo trong đặc san Trà Vinh. Là một cô gái nhà quê xuất thân từ Trà Vinh, tôi như con cá mắc cạn trong cái xứ xa xôi hẻo lánh đầy “Tuyết” và “Sương Mù” thuộc Tiểu Bang Ohio.
Đọc những bài anh viết, rất lôi cuốn và “đặc sệt” Nam Kỳ tôi như được thả về ao rạch thân yêu, bơi lội trong vủng trởi kỷ niệm của tuổi thơ trong trắng.

Qua bút pháp của anh, tôi hình dung một anh nông dân Hai Quẹo, hiền như cục đất, thiệt thà, có sao nói vậy, môt bản chất dễ thương của người dân miền Lục Tỉnh. Nhưng qua Luân Tâm, tác giả của tập thơ Hương Áo, tôi mới biết Hai Quẹo chính thật là “Lâm Thành Hổ ,cưụ sinh viên Quốc Gia Hành Chánh ,Đốc Sự khoá 15. Anh là một cây bút trẻ rất có phong độ đặc biệt ,một bản lỉnh khác thường ,cho dù vì hoàn canh sinh sống quá khắc khe ,không có thì giờ nên viết rất ít ,cũng đã tự xác định được cho mình một chỗ đứng khá vững chắc trong lòng độc giả chọn lọc rồi.”

Hôm nay tôi lại có diễm phúc đọc qua bài giới thiệu cùa Lâm Thanh cho Hương Áo.

Vói tựa đề Hương Áo, Lâm Thanh đã nghĩ ngay đến hai câu thơ của vua Tự Đức:

“Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi”

Còn tôi thì lại liên tưởng đến hai câu ca dao của Miền Tây Nam Phần:

“Chim Quyên ăn trái nhản lồng
Thia lia quen chậu vợ chồng quen hơi”

Qua vài trao đỗi điện thư, và thưởng thức các bài thơ anh sang tác, tôi có cảm tưởng Luân Tâm vừa có nét trửu tượng khó hiểu của Họa Sĩ Picasso mà lại có màu sắc sặc sở, đậm nét đau thương của Van Gogh. Và hình như phê bình gia Lâm Thanh cũng ghi nhận như vậy.

Tình yêu của Luân Tâm dành cho hiền thê qua Hương Áo đưa tôi về một chân trời xa thẳm của tuổi mười lăm, mười bảy khi đôi trẻ đã lỡ:

“Thương nhau cỡi áo trao nhau
Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay”

Tôi chưa có dịp để đọc qua 360 trang của tập thơ Hương Áo của thi sĩ Luân Tâm, nhưng qua bài giới thiệu của Lâm Thanh, tôi đã dành một cảm tình sâu đậm cho tập thơ qua bốn câu:

Lang thang tìm lại dấu bụi đường
Em mới dẫm lên còn dễ thương
Nhặt lên âu yếm cho vào túi
Mà ngỡ ngọc ngà ngỡ sắc hương..

(Như Mây Hồng, tr. 117)

Ngày mai tôi lên đường về một chốn xa. Một nơi mà tôi có thể nằm lim dim trên võng dưới tàn cây nhiều bóng mát để đọc thơ, nghe nhạc và mơ đến “Cuối Bờ Viễn Du” nơi “Ta ru người ngủ áo bay thẩn thờ.”

Vũ Thi An



Vũ hiền đệ thân quý,

Rất cám ơn hiền đệ đã cho xem và hỏi ý kiến ngu huynh trước về bài "Nẻo Nhỏ Vào Thơ LuânTâm" cuả Lâm hiền sư đệ đa tài hoa .Ngu huynh cũng đã được hân hạnh đọc qua bản thảo rồi. Rất cám ơn Vũ hiền đệ đã tốn rất nhiều công sức và thì giờ quý báu ,dàn dựng ,trình bày hết sức thẩm mỹ tuyệt vời khiến cho bài viết như được chấp cánh thêm rất nhiều! Do đó, "Hương Áo" cũng được "mát mặt ấm lòng" thêm vì nhị vị hiền đệ đồng môn "ngon lành hết sẩy"!

Tuy vậy, so với Bản thảo gốc mà ngu huynh hiện có trong tay bằng giấy trắng mực đen ( được Lâm hiền đệ thương cho phép hiệu đính ), thì cũng còn có mấy lỗi kỷ thuật đánh máy & dấu chính tả lặt vặt. Do đó ,ngu huynh đã đoc lại cẩn thận, hiệu đính xong. Xin hiền đệ vui lòng sử dụng, post Bản đã hiệu đính gửi kèm theo đây nha ! Ngoài một số hiệu đính kỷ thuật nhỏ, có 2 điểm đáng nói sau đây ( mà ngu huynh cũng đã hiệu đính rồi, chỉ lưu ý cho Vũ hiền đệ biết thôi):

1/Ở trang thứ3 : Hàng số2+3 :có thêm mấy chữ cho đúng nghĩa. Nguyên văn câu đó là "Bệnh tình của người vợ hiền từ từ thuyên giảm, sức khoẻ được dần dần hồi phục."

2/Ở đoạn văn thứ 4: "Cái Nết Đánh Chết Cái Đẹp" ngu huynh xin mạn phép " múa rìu qua mắt thợ", TÔ ĐẬM 2 câu sau đây: "Cái hồn thơ có bay bổng hay không là do sự sáng tạo. Nhìn từ khía cạnh nầy, người đọc mới thấy những thi tứ bất ngờ, những sáng tạo vô biên cuả tác giả ."

Thú thật với Vũ hiền đệ, khi được Lâm hiền đệ gửi cho Bản thảo NNVTLT nầy, vợ chồng ngu huynh đã đoc đi đọc lại cả chục lần rồi. Mà lần nào cũng đều vô cùng bàng hoàng, kinh ngạc sững sờ, xúc động không sao cầm được nước mắt ! Rồi ngu huynh đâm ra nghi hoặc, mơ hồ không biết Lâm Thanh có phù phép gì mà tuy chưa hề một lần được gặp tận mặt, lại có thể nhìn suốt cả cuộc đời, hiểu thấu suốt trong tim, trong óc, trong huyết quản, trong xương thịt, trong trọn vẹn cả mọi ngõ ngách mảnh vườn thơ quá thô thiển quê mùa của LuânTâm hết trơn, không còn chừa ra một chút riêng tư, sâu kín bí mật gì cả ! Bây giờ, đến lúc "Sương buổi sớm nắng chiều tà "(BG) rôi, được vinh hạnh đọc bài : "Những Nẻo Nhỏ Vào Thơ LuânTâm" của Lâm hiền sư đệ, ngu huynh đây mới thực sự sáng mắt ra, thực sự được"ngộ", cảm nhận được một cách sâu xa, hiểu rõ hết ý nghĩa vô cùng cao quý tuyệt vời của 4 chữ "tri kỷ tri âm"... Sau cùng, không khỏi ngẩn ngơ, ngơ ngẩn sựt nhớ đến 4câu thơ cuả chính mình :

"Lòng đau rụng sạch tay chân
Lăn hoài trong cõi phù vân ỡm ờ
Ảnh ai mà nhặt lên thờ,
Nhìn đi nhìn lại còn ngờ là ta..." (Xanh Môi,Hương Áo,tr.209-211)

Xin vô vàn đa tạ nhị vị Lâm &Vũ hiền sư đệ. Xin thân chúc tất cả một Mùa Giáng Sinh và Năm Mới thực an bình, hạnh phúc tốt đẹp tuyệt vời như ý nguyện, thân tâm an lạc mãi mãi . Thư bất tận ngôn. Rất thân quý kính mến.


LuânTâm.

TB:ngu huynh co ý muốn xin Vũ hiền đệ cho phép sử dụng Bản văn mà hiền đệ đã giúp trình baỳ tuyệt mỹ nầy để "khoe khoang" và phổ biến rộng rải ,không biết ý Vũ hiền đệ như thế nào? Nếu được phép thì có cần phải ghi rõ là "Do MaoTôn Hùng Vũ trình bày" hay không? Xin cám ơn Vũ hiền đệ trước nha !

LT015- Từ HOÀNG CHÂU

Tha Hương Ngộ Cố Tri

Bạn Tám thân mến,

Xin kính thăm Tám và bưủ quyến.Rất vui mừng và xúc động khi nhận được Thi Tập Hương Áo cuả Luân Tâm,nhứt là những dòng chữ lưu niệm thân thương trân quý gợi nhớ thuở học trò! Tám nói rất đúng! Chúng mình đã:

"Vào ra ba cửa nhà chung,(1)
Cuối cùng chung kiếp tạm dung ..lạc loài!"


Đọc thơ Luân Tâm,mình thực "khoái chí tử"vì nhiều lý do ! Có lẽ chỉ có "những thằng" từng uống nước dưà BếnTre,tắm sông Trúc Giang, biết hái trái trứng cá ở Bờ Hồ Chung Thủy, biết chọi trái điệp tai bèo nơi Ngã Ba Tháp,biết nhìn mây trắng trời xanh nước biếc nổi trôi mơ mộng mỗi lần qua Bắc Rạch Miễu,hoặc đi lang thang rong chơi thơ thẩn trên con đường đá đỏ Vòng Nhỏ Mỹ Tho,qua con đò nhỏ đi xuống Chợ Gạo ,vòng lên Cầu Vỹ về Bến Tranh,Chợ Đệm (Tân An).v.v...hay là chui vào Rạp Ciné bình dân Đại Đồng ở đường Cao Thắng (Quân3,SaiGòn) rồi vòng về đại lộ Trần Quốc Toản ,vào ở Ký Túc Xá Học Viện Quốc Gia Hành Chánh....thì mới có thể thật sự thấm thía ,đồng cảm sâu sắc khi đọc thơ Luân Tâm.

Sở dĩ mình hồi âm hơi trễ là vì muốn có đũ thì giờ nghiền ngẫm cho hết 361 trang thơ :

"Tứ Ơn trọn đạo làm người,
Tâm hồn tâm tánh tuyệt vời siêu nhiên!"

Mình cũng rất đồng ý với Luân Tâm:
"Biển sầu tát mãi không vơi
Lang thang tìm lại những lời nước non!"


Kính hẹn Bạn thư sau! Hy vọng sẽ còn có dịp được trực tiếp tay bắt mặt mừng "cố tri" khi nào Tám có dịp ghé qua California.Mình đã có liên lạc thường xuyên với Chị Tô Thị Hồng Vân(quê ở BaTri),va 2 Nguyễn Thị Thật (ái nữ cuả giáo Sư Công ,dạy âm nhạc),cũng thường xuyên gặp gỡ Ngô Bá Phước,Tươi (Ốc tiêu),Huỳnh Tấn Phúc...v..v...

Xin thân chúc vợ chồng bạn va các chaú cùng toàn thể quý quyến đưọc vạn sự an lành như ý.

Thân mến,

California ,ngày 10 tháng 12 năm 2007
Hoàng Châu Châu Văn Đễ

(Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh,khóa Đốc Sự 12,Chủ Tịch Tổng Hội CSVQGHC.)

(1) Chúng ta từng là đồng môn cuả 3 Trường :1/Trung Học Công Lập Bến Tre,2/Trung Học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho,3/ Học Viện Quốc Gia hành Chánh

LT014- Từ NGUYỆT HẠNH

"Anh buồn có chốn thở than
Em buồn như ngọn nhang tàng thắp khuya "(4)

Kính thăm anh chị Luân Tâm,

Sau khi đọc tập thơ Hương Áo của anh, thú thật Hạnh đã bị "khó ở" một thời gian rất lâu bởi vì mang trong lòng nỗi mặc cảm "Lỗi Đạo" với rất nhiều người..mà Hạnh tin chắc rằng kể ra đây sẽ rất dài. Để gọi là 'tri ân' tấm gương chung thủy, có trước có sau của anh chị, Hạnh đã mạo muội ghi lại đôi dòng qua tùy bút "Chim Quyên Xuống Đất Tha Mồi" gọi là cảm đề thơ "Hương Áo" của Luân Tâm. Vì rất tiếc là mình quá vụng về chẳng biết làm thơ, mà để 'họa' thì chắc chắn sẻ không ổn rồi..Một liều ba bảy cũng liều, xin anh nhận cho một tấm lòng chỉ có thế. Và qua bài thơ ấy Hạnh đã "NGỘ" vì tình yêu thì 'vô cùng'.

Nhân đây Hạnh cũng xin phép được mở một dấu ngoặc rắng mình chưa đủ tài đức để đại diện cho ai cả khi "Vinh Danh" tình nghĩa phu thê ngàn đời của anh chị đâu, mà là Hạnh muốn nêu lên nỗi xúc động của riêng mình và cũng để ngẩm lại mình. Rằng mình đã sống hết lòng hết sức cho người mình yêu thương chưa?? Hẳn là câu trả lời rất là nhỏ nhoi khiêm tốn vì thiếu mất cái NHẪN rồi.

Vợ chồng đến với nhau khởi đầu bằng cái DUYÊN như thuyết nhà Phật nói, và sự gắn bó kia là cái nghĩa như "lia thia" quen chậu vậy. Ông Bà mình họ đều là "triết gia" cả nên họ mới thể hiện trong Ca Dao anh ạ. Và thơ của anh cũng thế, đọc để mà "thấm" chứ Hạnh chưa đủ khả năng để 'bình' thơ ở đây được.
Như anh thấy đó hồi xưa mà ông bà mình đã ý thức được 'con người là tổng số của sự Cô Độc (đôi khi bất hạnh) vì

" Anh buồn có chốn thở than
Em buồn như ngọn nhang tàng thắp khuya "(4)

Đó có phải là một lời trách khẻ cho số phận "hẩm hiu" và đơn độc chăng? Nghe sao mà xót xa quá đi mất.
Thế nhưng anh-chị đã không nằm vào cái lệ thông thường ấy, mà là nhờ vào tình yêu tuyệt đối, anh chị đã hy sinh cho nhau để có thừa can đảm vượt qua tất cả những thử thách, thêm vào sức khỏe tinh thần..ít ai có đủ sức chịu đựng nếu họ thiếu cái đức NHẪN trong đạo vợ chồng.

Như hằng đêm, Hạnh và anh Đức vẫn thắp nhang trước bàn thờ Phật, bàn thờ Ông Bà Cha Mẹ xin phò hộ cho gia đình nhà nhà được bình an, tai qua nạn khỏi và khỏe mạnh. Cầu xin ơn trên hộ độ cho chị sớm bình phục và anh sáng tác càng mạnh thêm bằng năm bằng mười năm cũ.

Kính thư,

Nguyệt Hạnh

Thân kính gửi NS.Nguyệt Hạnh,

Chúng tôi thực vô cùng xúc động sững sờ vinh hạnh được đọc cùng môt lượt cả 2 bai "lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu" của NS.về bai "Nhang Tàn Thắp Khuya" và bài "Vinh Danh...".Xin phep nói rõ là tôi vốn mù tịt về computer, moi sự gửi bài ,trả lời ,giao dịch với bạn hữu đều phải nhờ con gái Út phụ giúp cả mà cháu thì lại qua bận rộn đi học đi làm thêm mà còn phải lo cho Mẹ Ba đũ thứ chuyện lớn nhỏ nữa !Do đó,lâu nay tôi vẫn chưa hề biết NS.đã quá rộng lượng ,từ bi bác ái có bài "Vinh Danh....",( trong một trang khác,không phai trong trong HA.)bằng những lời lẽ hết sức cao đẹp thâm sâu mà chúng tôi thực tự thấy hổ thẹn ,không xứng đáng ,không dám nhận đâu !Như trong bài "Đường Vào Thơ ",chúng tôi đã có thưa rõ rằng :chúng tôi chỉ la một người già nua quê mùa ,lẩm cẩm ,thất cơ lỡ vận ,cùng đường mạt lộ,một hạt cát quá nhỏ nhoi,một vết bụi mờ hiu hắt,một cọng cỏ khô nhiệt đới hoang dã nổi trôi đoạn trường ...ai có qua cầu mới hay ! Đôi lúc,quá quẩn trí ,viết vài câu thô thiển quê muà để an ủi ,mua vui co vợ con và bản thân mình mà thôi ....Tôi vốn tự biết mình la "ếch ngồi đáy giếng "nên luôn luôn rất lo sợ lời răn dạy quá chí lý của cụ Tú Xương ! Xin thưa thiệt :cũng vi cái bệnh quá dốt computer nên tôi đã từng bị "thiên hạ " đành đọan, nhẫn tâm ra mặt ăn hiếp ,chèn ép ,kỳ thị,miệt thị đũ cách cố ý ,ganh tỵ,ác ý xuyên tạc,chụp mũ ,vu khống mấy dòng thơ quá chơn chất, quá nhà quê cuả tôi ! Tôi đã định "rưả tay gác bút" luôn cho rồi ,cho yên thân già bóng xế chiều tàn !Nhưng cũng may là Ông Bà Trời Phật còn thương (hay là cái duyên nghiệp chữ nghĩa chưa được phép dứt đây ?) cho chúng tôi đươc trùng phùng hạnh ngộ với hai Đại huynh Huynh Ngọc Diêu và Trần Bình Trọng ,đươc rộng lượng cho phép "Trở về quê cũ gánh nước đêm trăng để tìm lại kẻ chung tình!" ( Xin lỗi soạn giả tài hoa Viễn Châu và vua vọng cổ Út Trà Ôn...cho phép trích mượn 1 câu nói lối trong bài ca vọng cổ một thời vang bóng Gánh Nước Đêm Trăng nhá !) Ở Diễn Đàn BenTreHome thân thương nầy ,chúng tôi thấy ở đâu cũng là bóng mát êm dịu thần tiên tuyệt vời cuả rừng dưà BếnTre,thấy cái hào khí cuả Ông Già Ba Tri ,cụ Đồ Chiểu ,Cụ Phan Thanh Giản cả !Tôi thực rất xúc đông ,yên tâm tin tưởng rằng ở đây chỉ toàn la bà con ,anh chi em ruột thịt thân thương của mình cả.....một nơi chôn mà hơn 60 năm về trước đã từng chôn nhau cắt rún mình rồi, nay lại hào hiệp mở rộng vòng tay nhâu hậu trìu mến ,sẵn dành cho mình một góc nhỏ thực thanh bình ,làm nơi nương náu cuối cùng qúa dịu êm thanh thản ,an lành vậy. Xin vô vàn thâm tạ NS.Nguyệt Hạnh đa có hão ý ,nhã ý "để mắt xanh đến "chút bọt bèo rong rêu quê nhà !Để đáp tạ phần nào ơn tri ngộ,xin trân trọng thân ái chép lại một bài nhà quê mà tôi rất thích :bài số 11 trong trang thứ 58 cuả Hương Áo là bài "CỎ HOANG",để ước mong NS."mua vui cũng được một vài trống canh "vậy nha !

CỎ HOANG

(thân tặng Nguyên Trần)

Như hoa đồng nội như cỏ hoang
Thơ thẩn vườn khuya trăng gió tàn
Đường đau mưa lạnh hồn sông núi
Mỏi mòn chân đất mộng bình an !
****
Vắt chân nằm ngắm đất trời
Bên kia cát bụi dòng đời mưa giăng
Bên nầy tre vẫn khóc măng
Hết mưa rồi nắng băn khoăn ích gì
Im lìm không phải không đi
Ồn ào không phải nghĩ suy hơn người
Vui vẫn khóc buồn vẫn cười
Bao nhiêu nhiêu ngang trái tại người ?tại ta?
Mất quê hương không cưả nhà
Không tình không nghĩa hay là không không?
Hỏi thăm cây cỏ ruộng đồng
Hỏi thăm sâu bọ còn mong kiếp nào ?
Hỏi châu chấu hỏi cào cào
Bay qua bay lại nhảy vào nhảy ra
Hỏi cu gáy hỏi chim ca
Hôm nay lạnh lẻo? hôm qua ngọt ngào ?
Trời còn khi thấp khi cao
Đất còn đen đỏ làm sao đứng ngồi?
Đường xa xứ lạ nổi trôi
Đêm đêm vất vưởng bên đối cỏ hoang
Mơ chi áo gấm nhà vàng
Lòng nghe thanh thản bình an đã mừmg.....

MD.03/13/04



Xin chân thành ghi tâm khắc cốt hão tâm nhã ý ,rộng lượng chia xẻ ,đồng cảm ,thương cảm cuả NS.Nguyệt Hạnh đồng hương vô cùng trân qúy cuả xứ dưà dư thừa tình nghĩa,cuả quê Mẹ thân thương nghìn đời nghìn kiếp vời vợi công ơn trời cao biển rộng . Xin thân chúc NS.cùng toàn thể quý quyến luôn được dồi dào sức khoẻ ,vạn sự nhứ y ,thân tâm an lạc thực sự .Thư bất tận ngôn.Rất thân quý kính mến.

LuânTâm.

LT013- Từ TRẦN VIẾT LONG

Anh Luân Tâm thân,

Tôi vừa nhận được Thi Tập "Hương Aó" của Anh. Tôi sẽ đọc để có một cái nhìn sâu xa trong tâm hồn Anh về cuộc đời, về con người, và về những chiều sâu thẳm khác.

Tác phẩm được trình bày thật đẹp, thật công phu. Những phụ trang gói gọn bao tâm tình, bao kỷ niệm, bao nỗi niềm hợp tan, ly biệt của một đời người cùng nổi trôi theo vận nước tình nhà của một giòng lịch sử đầy oan khiên ray rứt khi mà kẻ thắng người thua đều gào chung một tiếng kêu than uất nghẹn xé lòng :

Ôi điêu tàn, Mẹ Việt-Nam ơi !

Tôi đang giúp Cô Jackie Bông để sưu tập tài liệu liên quan đến Cố Giáo Sư uyên bác và khả kính Nguyễn Văn Bông thì được đọc bài "Cánh Hồng Việt-Nam" của Anh như một hồi chuông buồn vô vàn ngậm ngùi xa vắng:

" Khóc Thầy, hải hận mang mang,
" Trời cao xuống thấp để tang thương Thầy! "


Xin cám ơn Anh thật nhiều.

Trần Viết Long

(Cựu Sinh Viên QGHC,ĐS16,CH8)