THƠ VÀ CƠN BỆNH CỦA NÀNG THƠ
Đọc HƯƠNG ÁO của LuânTâm
Nguyễn Phụng
Hương Áo* là một tập thơ đặc biệt. Đặc biệt vì đó là một tập thơ dày cộm và mỗi bài thơ mang một số thứ tự để người đọc dễ tìm hay dễ nhớ. Điều hiển nhiên là giá trị thi ca của tập thơ không tùy thuộc vào số lượng bài thơ; đó là trường hợp của T.T. Kh. hay Trần Bích Tiên, tác giả này chỉ đến với người đọc qua một bài thơ độc nhất, “Nói Với Em Lớp Sáu” nhưng vẫn được nhiều người đọc miền Nam nhớ tên. Tuy vậy, với 360 trang chữ nhỏ chi chít và 151 bài thơ dài dằng dặc, Hương Áo thật là đặc biệt. Đặc biệt hơn nữa là Hương Áo không phải chỉ là một tuyển tập những bài thơ tình mà còn là một chuyện tình, một chuyện tình đẹp và buồn giữa người làm thơ và nàng thơ, bắt đầu từ quê hương miền Nam, Sài Gòn, Bến Tre, Long An và trôi giạt đến xứ Cờ Hoa này. Chuyện tình đó được lược lại trong mấy trang dưới đây với vài ghi nhận về hương vị thi ca trong câu chuyện.
1
Ngày xưa, khi yêu nàng, Luân Tâm, tác giả Hương Áo, đến với nàng bằng thơ; nhưng anh không biết làm thơ nên chỉ đọc thơ của thiên hạ để làm quà cho nàng:
Anh chẳng biết đàn chẳng biết ca
Đọc thơ thiên hạ để làm quà
Cho em những lúc em không giận
Em cũng mừng vui, cũng thiết tha(Liêu Trai)
Anh đọc nhiều thơ lắm -- thơ Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nhất Tuấn, Nguyên Sa… -- và đọc với giọng trìu mến, thiết tha. Ý thơ và giọng đọc của anh làm thành nhịp cầu thương yêu bắc qua giòng sông ngăn cách ban đầu và đưa đến bến bờ tình yêu thơ mộng của nàng. Tình thương yêu của nàng nở hoa kết nụ thắm tươi. Và từ đó họ thành đôi uyên ương, xây dựng một gia đình “như cổ tích như thần tiên” với người vợ hiền “như hoa đồng nội” trang điểm cho cuộc đời và “như nắng ấm đầu xuân” đem sự đầm ấm cho mai sau.
Nhưng những ngày nắng xuân ấm áp đó kéo dài chẳng bao lâu thì biến cố đau thương tháng 4 năm 1975 phủ xuống miền Nam. Như bao nhiêu người trai trẻ và trí thức khác, anh bị đẩy vào lao tù cộng sản, chịu bao đọa đày thân xác, khổ nhục tinh thần vì chứng kiến sự kém cõi, u mê của kẻ giam cầm anh. Anh đi tù biệt xứ, nàng phải phấn đấu với cảnh áp bức, nghèo khó cùng cực để nuôi con và lặn lội thăm anh; nàng là người vợ hiền, chung thủy và đảm đang.
Trong những ngày cúi mặt đối diện với gông cùm, tình yêu thương của nàng là hy vọng và nguồn sống của anh. Anh quyết phấn đấu để sống còn, để có ngày về sum họp. Và sau bao nhiêu năm dài chịu đựng, ngày đó đã đến. Tuy bên vợ con nhưng không kham nỗi một chế độ bán khai và không tình người, anh và gia đình trốn thoát quê hương để tìm đến đất tự do Hoa Kỳ. Tại xứ tự do này anh lại phải đối đầu với nhiều thứ khó khăn khác. Nhưng anh đã có nàng. Nàng giúp anh vơi bớt nỗi buồn tha hương và xây mộng ngắn mộng dài cho một cuộc đời mới. Với tình yêu thương và bàn tay của nàng, giấc mộng của anh đã thành sự thật; anh đã gầy dựng một mái nhà và một cuộc sống êm ấm trên quê hương thứ hai.
Nhưng rồi lại không may cho anh cho nàng và các con, gia đình yên ấm chưa bao lâu thì bỗng dưng sấm chớp bủa xuống mái nhà: nàng bị bạo bệnh.
Đất khách tảo tần chưa năm năm
Mua ngôi nhà mới chưa kịp nằm
Bỗng dưng sấm chớp tan tình điệu
Bệnh ngặt giữa đường tuyết lạnh căm
……..
Âu yếm nhìn nhau lệ bỗng tràn
Mõi mòn tìm mãi chút bình an
Mà sao trời đất gieo oan trái
Chưa ấm bếp hồng lửa bỏ than
(Đường Phai Nắng)
Cơn bệnh khiến nàng thành người bất lực, không thể lo cơm nước cho chồng con như những ngày nào. Anh thay nàng lo cho con và cố an ủi nàng với mấy lý do rất tình tứ: Anh lo cho con để nàng nghỉ ngơi; nàng cần tạm nghỉ tay làm bếp vì đã chịu cực nhọc quá nhiều trong những năm qua; và lành hay bệnh chỉ là sự đổi thay thường tình, như chuyện gió rồi mưa của đất trời:
Em cực nhiều rồi lo nhiều rồiCũng cần ngơi nghỉ chỉ thế thôi
Cơm canh anh vẫn lo xong được
Con vẫn bên em vẫn nói cười
……………
Ốm đau tình vẫn nở thành thơ!
Kể như em nghỉ tay làm bếp
Trời nắng trời mưa chuyện bất ngờ
Cơm nóng canh ngon đã sẵn chờ
(Hương Áo)
Điều âu lo khác là nàng không thể tự lo cho chính mình vì tim phổi chẳng còn mấy sức lực và chân tay đã quên nhiệm vụ của chúng. Anh an ủi nàng và nhắc nàng cứ yên vui; anh sẽ lo hết mọi việc cho bản thân nàng, và anh bây giờ là chân tay và tim phổi của nàng:
Mây trắng vẫn bay trời vẫn xanh
Em là đầu óc tay chân anh
Là tim phổi là hơi thở
Là máu xương là mộng lành
(Hương Áo)
Và đáng buồn hơn nữa là cơn bệnh ngặt nghèo đó cướp đi tiếng nói ngọt ngào của nàng, tiếng nói đã bao lần làm anh ngất ngây và ghen tuông vì ngại rằng anh có thể mất nàng:
Giọng nói ngọt ngào ai cũng khen
Họ hàng người lạ lẫn người quen
Say mê yên lặng nghe em nói
Làm anh lo sợ làm anh ghen
(Hương Áo)
Và từ đó anh và nàng chỉ còn trao đổi tâm tình với nhau bằng tiếng nói thầm lặng. Dù là thầm lặng, tiếng nói đó không hề ngăn cách anh với nàng -- anh vẫn hiểu nàng, hiểu nàng như xưa, hiểu nàng lúc nàng buồn, hiểu nàng khi nàng vui -- và vẫn góp hai người lại thành một:
Im lặng nhìn nhau lòng hiểu lòngCần gì nói chuyện quá viễn vông
Em vui anh biết, buồn anh biết
Tuy gọi một đôi chỉ một lòng
(Hương Áo)
Và điều tối hậu anh muốn nàng ghi nhận là dù nàng đau yếu, không nói nên lời, nhưng anh may mắn vì vẫn còn có nàng; anh may mắn vì được sống bên nàng cho trọn kiếp người:
Dẫu bệnh mà em vẫn còn đây
Cho anh được sống trọn kiếp này
(Hương Áo)
Từ đó cuộc sống anh hoàn toàn thay đổi: Anh là nàng, anh thay nàng chăm sóc các con; anh là người “kết cỏ ngâm vành” để lo cho nàng. Anh đút cơm nước cho nàng, giúp nàng làm công việc mà nàng không thể tự lo cho thân thể mình và đọc thơ cho nàng nghe. Đọc thơ là những giờ phút ấm êm, trầm bổng, giúp anh tạm quên đi cảnh đời chung quanh. Và với nàng, đó là những giờ phút trông đợi hằng ngày, những giờ phút bình yên, khó kiếm. Không một một cử chỉ thương yêu nào qua giọng đọc của anh mà nàng không nhìn thấy; không một âm thanh nào nàng không ghi nhận; không một khoảng yên lặng nào mà nàng không hiểu, dù là một khoảng yên lặng sâu thăm thẳm -- khoảng yên lặng sấm sét của cơn giông hè trước khi trời đổ mưa.
Đọc thơ cho nàng nghe thành ra một gần gũi cận kề nhất của hai thân xác, một sự trao đổi giữa hai tâm hồn, một sự giao thoa giữa hai luồng giao cảm. Đọc thơ cho nàng nghe là một biểu lộ ân tình, một cố gắng để tìm về những ngày xưa tươi đẹp và một sự tiếp nối của sự sống.
Một chiều, như thường lệ, anh đọc thơ. Anh tình cờ đọc bài Tương Tư của Nguyên Sa để nhắc lại tình yêu si mê của anh đối với nàng ngày nào:
Tôi đã gặp em từ bao giờ
Kể từ nguyệt bạch xuống đêm khuya
Kể từ gió thổi trong vừng tóc
Hay lúc thu về cánh nhạn kia
Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay
…….
Anh chưa chấm dứt bài thơ nàng bỗng nhiên cất lên tiếng nói… Nàng đã nói và anh đã nghe lại tiếng nói của ngày nào, tiếng nói thương yêu… Anh khóc; anh khóc như trẻ thơ; anh khóc vì quá vui mừng…
Anh cảm ơn trời đất Đó là một ơn phước to lớn mà anh không bao giờ hiểu nỗi. Có lẽ, và có lẽ thôi, vì ngày xưa, đã bao lần nàng nghe anh đọc bài thơ này để chuyên chở khối tình si của anh, nàng thấu hiểu mối tình này, chấp nhận nó và cất giữ nó vào một chỗ trang trọng nhất trong tim óc nàng. Chiều đó, cũng đó với sự trìu mến đó và cũng với tần số rung động đó, giọng đọc anh đã tìm đến đúng nơi nàng chôn giữ khối tình si của anh, nên nàng thốt nên lời tạ tình…
Từ đó, đọc thơ cho nàng nghe là niềm hy vọng sáng tươi của gia đình -- hy vọng nàng sẽ nói líu lo như chim hót nơi hẹn hò ngày nào. Một ngày không đọc thơ là một ngày bỏ qua, một ngày không nghe thơ là một ngày vô vọng; mọi việc kể từ ngày đó, dù là tiếp tục, cũng là bắt đầu.
Mưa gió cũng qua nắng đẹp lên
Rồi em hết bệnh anh vẫn hên
Rồi em lại nói cười đầm ấm
Anh một bên và con một bên
………..
Anh muốn em đừng nghĩ viễn vông
Ngày mai nắng đẹp gót chân hồng
Em anh lành bệnh đời thêm mộng
Tay ấm bàn tay lòng ấm lòng
(Hương Áo)
2
Mấy chục bài thơ của Xuân Diệu, Đinh Hùng, Hàn Mặc Tử, Nguyên Sa, Nhất Tuấn… anh thì thầm bên nàng đã quá nhiều lần; nàng cần vài vần điệu mới. Nàng cần âm vang của dăm ba vần điệu khác lạ để cho qua hết ngày và để học lại tiếng nói thơ ngây ngày nào… nhưng biết tìm đâu bây giờ? Anh vốn không biết làm thơ mà chỉ đọc thơ của thiên hạ cho nàng nghe (và dù vậy, nàng vẫn rất thiết tha với những lời thơ đó). Vì lẽ đó, vì sự cần thiết đó, anh bắt đầu làm thơ:
Hò hẹn hay không vẫn đợi chờ
Yêu em anh bỗng biết làm thơ
Xin thời gian giữ nguyên màu má
Để nghĩ rằng em chẳng hững hờ…
(Tình Tứ)
Thơ anh viết từ nàng, chỉ cho nàng, và chỉ vì nàng. Thơ anh ghi lại những rung cảm của “phút ban đầu lưu luyến ấy” khi nàng là cô sinh viên Văn Khoa, hay ra vào thư viện:
Lối vào thư viện thân quen
Dư hương còn đó êm đềm tiếng ai
(Thẩn Thờ)
Mười năm chưa được cầm tay
Đêm đêm mơ tưởng tiếng ai gọi mình
(Áo Bay)
Thơ anh là tiếng thở dài thương xót nàng chịu cực nhọc trong những ngày anh bị đày đọa trong trại tù cộng sản:
Vợ con còn chút da bọc xương
Bữa cháo, bữa rau, muối pha tương
Còng lưng cày cuốc trồng khoai sắn
Tóc cháy da sần áo gió sương
(Tủi Thân)
Vẫn thiếu anh mà vẫn có anh
Áo nào con đắp suốt năm canh
Trong từng giây phút từng câu nói
Em dạy cho con sống thơm lành
Con nói ngây thơ em cũng vui
Mà lòng thương nhớ anh không nguôi
Trong con cũng có anh âu yếm
Em vẫn thương yêu nhất tiếng cười
(Nguồn Sống)
Thơ anh là lời cảm ơn nàng đã giúp anh xây dựng lại cuộc sống trên đất lạ quê người:
Xứ người lạ cỏ lạ cây
Lạ ăn lạ uống đêm ngày trở trăn
Ta như hạt cát sông Hằng
Mênh mông trong đục cũng bằng sắc, không
Trong vòng trời đất mênh mông
Đát lành chim đậu mà lòng chưa yên
Cũng may còn có vợ hiền
Ba con hiếu thảo tạm quên lưu đày
(Đường Trần)
Thơ anh chỉ viết cho nàng và chỉ mình nàng thưởng thức: anh đọc cho nàng nghe. Ngày xưa khi si mê nàng, anh dùng lời hùng biện để chinh phục nàng; và nàng là đối tượng duy nhất của lời hùng biện đó. (Lời hùng biện -- với với mỹ từ và cường điệu nhằm chinh phục một đối tượng nào đó -- thường không được ưa chuộng, nhất là khi những lời đó bị lạm dụng; nhưng may thay, lời “hùng biện” của anh ngày nào chỉ là những bài thơ trong sáng, tình tứ của ai đó được chuyên chở qua giọng đọc nhẹ nhàng của anh.) Bây giờ, sau những ngày giờ chăm sóc nàng, anh lắng nghe rung cảm trong lòng mình, anh nói với chính mình, nói cho chính mình nghe; và lời nói đó là thơ của anh.
Lời “hùng biện” ngày xưa nhắm vào một đối tượng bằng xương bằng thịt, nàng sinh viên kiều diễm Văn Khoa; và bây giờ, thơ anh là lời tự tình về tình cảm vui buồn rạt rào trong anh. Qua thơ anh, anh nói cho chính anh nghe. Dù anh đã ghi chép thơ trên giấy trắng mực đen, nhưng chỉ khi bên nàng anh mới thực sự làm thơ. Anh lúc đó là người tiền sử, không có văn tự; anh làm thơ bằng cách ca hát, kể chuyện, và nàng chỉ chợt nghe anh hát hay kể chuyện...
Ai đó đã từng suy nghĩ về câu nói bất hủ John Stuart Mill về thơ và người nghe thơ, “Eloquence is heard, poetry is overheard” (lời hùng biện được nói lên cho ai đó nghe còn thơ là âm vang mà ai đó chợt nghe) chắc phải nghĩ ngợi nhiều về thơ và nàng thơ của Luân Tâm. Ai đó dù không chấp nhận hoàn toàn hay bất đồng với John Stuart Mill về lối nhận định về thơ của ông, nhưng không thể không cảm nhận sự huyền diệu của thơ và sự mầu nhiệm của lời thơ chợt nghe và cơn bệnh của nàng thơ.
Anh cố đọc thật êm dịu nhưng rõ ràng để mỗi âm thanh khi đến với nàng biến thành một hình ảnh, hình ảnh ngày mới quen nhau, những lần đưa đón hẹn hò tại Bến Tre, Long An, sân trường Quốc Gia Hành Chánh hay giảng đường trường Văn Khoa... Mỗi bài thơ là một bức tranh lung linh, huyền ảo, đưa nàng về khoảng không gian mến yêu của quê hương mà anh và nàng đã dìu nhau đi qua và khoảng thời gian mộng mơ nào đó của tuổi đôi mươi. Và như thế anh tiếp tục làm làm thơ và đọc cho nàng nghe. Anh đọc thơ trong những đêm dài săn sóc nàng hay những lần đẩy xe lăn cho nàng đi dạo để ngắm bướm trắng và màu hoa áo trong đường chiều phai nắng:
Xe lăn ngơ ngác đường phai nắng
Bướm trắng bay theo hoa áo vàng
(Đường Phai Nắng)
Anh làm thơ để ca ngợi tình yêu nàng dâng hiến cho anh và lòng mang ơn của anh về sự dâng hiến đó. Nàng một thời nhan sắc khuynh thành, nhưng anh không mang ơn nàng vì “ngực ngãi môi trầm” theo kiểu Du Tử Lê, mà mang ơn nàng vì nàng là giòng thơ của anh, nàng là cuộc sống của anh, và nàng là hy vọng của anh.
Trong thơ, anh viết tên nàng để tỏ lòng mang ơn đó, nhưng không viết cầu kỳ hoa mỹ theo kiểu Paul Éluard -- viết tên người yêu trên bóng đêm huyền diệu, trên thỏi nắng chói chang của ngày dài, trên đôi cánh chim, trên chân trời…:
Sur les merveilles des nuits
Sur le pain blanc des journées
Sur les saions fiancées
J’écris ton nom
Sur les champs sur l’ horizon
Sur les ailes des oiseaux
Et le moulin des ombres
J’écris ton nom
(J’écris ton nom, Paul Éluard)
Anh chỉ viết một chữ ngắn gọn, Luân, tên nàng:
Áo mới làm duyên để anh cưng
Tóc trưa vừa gội vẫn thơm lừng
Không làm cô giáo thêm tình tứ
Anh nguyện trọn đời gọi tên Luân!
(Trăm Nhớ Ngàn Thương)
Và chữ ngắn gọn đó gói trọn sự cưng chiều bao la, đang tràn đầy trong tim anh:
Nũng nịu chút chơi để anh cưng
Đút ăn đút uống anh càng mừng
Như những ngày xưa anh mơ ước
Trọn đời bồng ẳm chị Tư Luân
(Hương Áo)
Vì nàng anh làm thơ; vì nàng anh thành thi sĩ, nên anh phải có một danh xưng, một bút hiệu. Bút hiệu nóng hổi của anh, Luân Tâm, mang tên nàng và tâm nàng; và đó là tâm của Luân, tâm của nàng thơ. Anh làm thơ để ca ngợi cái tâm cao cả đó, cái tâm của sự bao dung trong tình yêu, của sự hy sinh cho con cái trong những năm tháng anh bị đày đọa trong trại tù cộng sản, sự chịu đựng trong những ngày nghèo khổ tiếp nối khi anh ra khỏi tù, và sự đảm đang trong những ngày khó khăn trên xứ lạ quê người. Cái tâm của Luân bao la như cái “tâm” mà nàng Thúy Kiều mà Nguyễn Du đã phác họa, cái tâm như trời đêm vời vợi, với nửa vành trăng và ba vì sao, “nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời” (心).
Anh đề tên nàng và tâm nàng, “Luân Tâm”, như một lời tạ tình với nàng dưới mỗi bài thơ, dù ngắn hay dài, vui hay buồn, vừa ý hay không vừa ý. Anh viết “Luân Tâm” dưới mỗi bài thơ gởi cho bạn bè thân quen và những người mến nàng và hiểu nỗi đau khổ mà nàng đang trải qua; anh viết “Luân Tâm” dưới bài thơ đắc ý nhất để nhờ nhà danh họa Vũ Hối chuyển thành bức thư họa tuyệt vời để làm quà riêng cho nàng.
3
Luân Tâm làm thơ để vuốt ve cơn đau của người bệnh bị mất hết khả năng sinh hoạt bình thường và tiếng nói loài người. Người bệnh hao mòn vì cơn đau thể xác và tiếc nuối một thời đã qua, trôi giạt giữa thực tại và mộng tưởng, suy tư trong một khung cảnh cấu thành bởi nhiều mãnh vỡ của quá khứ và tương lai. Thơ đọc cho nàng nghe -- thơ với nhiều nhạc tính, biến điệu, biến thể, điệp khúc và màu sắc -- là liều thuốc chữa cơn đau và ru bệnh nhân vào giấc ngủ ít mộng mị và vài giấc ngủ êm đềm…
Thơ Luân Tâm là tiếng nói của tiềm thức, một tiềm thức sâu thẳm, ghi nhận đầy đủ hình ảnh và âm thanh của tất cả biến đổi vui buồn của tình yêu đôi lứa, gia đình, quê hương và đất nước. Khi tiềm thức khơi dậy, hình ảnh và âm thanh ghi nhận bấy lâu vượt thoát ra ngoài và đó là thơ Luân Tâm. Thơ Luân Tâm như giòng nước tuôn trào lai láng, lắm khi băng qua vài quy ước thông thường về chữ nghĩa và hình ảnh. Người đọc chắc sững sờ vì chàng si tình của Luân Tâm trong tuổi đôi mươi mà còn “bú tay” như trẻ thơ; và người đọc cũng phải gắng gượng lắm mới tưởng tượng ra hình ảnh “chó điên cản đường”, “buồn trưa cỡi bò”, hay “chó già mèo trẻ chung vui”:
Sững sờ cây trả áo xanh
Trời thương biển nhớ cũng đành bú tay
Tình câm còn bóng hôn gầy
Em hoa chùm gửi ta dây bìm bìm
Áo quan nào cũng được khiêng
Bàng hoàng nắng rụng chó điên cản đường...
(Trả Áo Xanh)
Ngậm ngùi cắt rún chôn nhau
Nhện con rách lưới hàng rào buồn thưa
Vàng hoa nắng bướm đời xưa
Điệu ru nước mắt buồn trưa cỡi bò
Trầu tàn cau cũng chết co
Chó già mèo trẻ giả đò chung vui
(Khô Hoa)
Nhưng mừng thay, Luân Tâm không đi quá xa như nhiều nhà thơ siêu thực. Thơ anh không hề ngụ ý thuyết phục người đọc rằng ý thức đóng vai trò thứ yếu so với tiềm thức trong việc thai nghén và hoàn thành bài thơ để biện minh cho những ý thơ không hình thù, nối kết nhau vu vơ; thơ anh không chuyên chở lời phàn nàn rằng ngôn ngữ bất lực trong việc diễn đạt tiếng nói huyền ảo của tiềm thức để bênh vực cho lối dùng ý thơ và ngôn từ mới lạ nhưng tẻ nhạt, khô cứng.
Hương Áo không phải là một tập truyện thơ nhưng lại gói gém một chuyện tình, một chuyện tình đẹp và buồn. Tuy vậy, người đọc dù không biết gì về câu chuyện tình đó vẫn cảm nhận được hương thơ toát ra từ Hương Áo. Dù không biết gì về câu chuyện tình lâm ly giữa Roméo và Juliet, người rành điệu khi nghe hòa tấu khúc Romeo and Juliet của Tschaikovsky vẫn thưởng thức và ngợi khen nét nhạc tuyệt vời, biến chuyển theo từng gút mở của câu chuyện. Nhận xét này là một cách nói cầu kỳ nhưng diễn đạt được một điều đáng nói về Luân Tâm: Hương Áo rất là thơ:
Thơ tình yêu đôi lứa thật là ý vị:
Có hai con bướm theo rình
Hôn nhau để dạy chúng mình học hôn…
(Ca Dao)
Anh xin làm gió xuân tha thiết
Hôn trộm một lần thật đắm say
(Tình Tứ)
Thơ tình mẹ đậm đà và bao la:
Mẹ nuôi được một con heo
Bao nhiêu nồi cám, nồi bèo sớm trưa
Mà tiền chẳng đủ để mua
Cho con áo mới lên chùa dâng hương
Quản bao dãi nắng dầm sương
Quanh nhà bầu bí mướp hương mấy giàn
Bạc hà hành hẹ dưa gang
Khế chua bưởi ngọt bên hàng xoài tơ...
(Giấc Ngủ Chưa Yên)
Thơ tình quê hương rất thiết tha:
Nắng gắt trưa hè rộn tiếng ve
Chuồn chuồn nghiêng cánh hôn bóng ghe
Ngày mai có lẽ trời mưa lớn
Đám mạ xanh màu áo mới khoe
………..
Gà gáy dâng buồn tiếng võng trưa
Con chim chích nhỏ ru bóng dừa
Lá sầu riêng rụng khô bờ giếng
Hoa cải thẩn thờ nhớ tiếng mưa
(Tình Quê)
Và thơ thân phận người trai miền Nam sau Quốc Nạn tháng 4 năm 1975 thật là thấm thía:
Vui vẫn khóc, buồn vẫn cười
Bao nhiêu ngang trái tại người tại ta
Mất quê hương không cửa không nhà
Không tình không nghĩa hay là không không
(Cỏ Hoang)
Ta như ma đói như lục bình
Trôi nổi dật dờ chết lặng thinh
Con ong con kiến con lên mặt
Giả điếc giả câm giấu bất bình
(Tủi Thân)
*** *** ***
Hương Áo rất riêng tư, chỉ viết vì một người và chỉ đọc cho người ấy nghe. Hương Áo tuy không đem “rao bán” nhưng không sợ “người đời thóc mách xem”. Một người đọc, cho dù rất thóc mách nhưng với một chút bình tâm, cũng cảm nhận ngay rằng chuyện tình Hương Áo rất đẹp, ân nghĩa, thủy chung; và thơ Hương Áo rất hương vị, hương vị của chiếc áo đã nhốt trọn vẹn thời gian và thương yêu của một cuộc tình say đắm.
Nguyễn Phụng


